Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Những cách lấy lại hứng thú trong công việc


Những cách lấy lại hứng thú trong công việc

Có nhiều lý do khiến bạn nhiều lúc rơi vào trạng thái uể oải, không còn động lực đi làm. Những lúc như vậy, Bạn sẽ làm gì để chống lại sự mệt mỏi để tìm lại niềm vui trong công việc?

Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, công việc lập lại mỗi ngày, áp lực bủa vây, lương thưởng không tương xứng, môi trường làm việc thiếu chuyên nghiệp, mối quan hệ đồng nghiệp nhiều mâu thuẫn….đều dễ khiến người ta rơi vào trạng thái mất hứng thú với công việc. Kết quả là bạn sẽ cảm thấy chán nản, không còn thiết tha với công việc dẫn đến làm việc không hiệu quả.

Vậy có cách nào để bạn vực dậy tinh thần và tiếp tục làm việc với niềm hăng say hơn?

Suy nghĩ tích cực
Ở một thời điểm nào đó, khi đã gắn bó với công việc, trong bạn thường xuất hiện nhiều đòi hỏi hơn. Ví dụ như bạn muốn được công ty ghi nhận công sức, được khen thưởng kịp thời và xứng đáng, được cân nhắc lên vị trí cao hơn, được tạo điều kiện làm việc nhiều hơn, được ưu ái hơn…Nếu những mong muốn này không được đáp ứng hoặc có nhưng không như mong đợi, bạn dễ cảm thấy chán. Hậu quả là càng chán công việc, bạn càng làm việc cẩu thả, vội vã và mờ nhạt.

Bạn có thể thay đổi được tình hình nếu hướng suy nghĩ theo chiều tích cực. Bạn có thể nhìn xuống thấp hơn để thấy bạn đang có công việc đúng chuyên môn mà rất nhiều người ao ước. Bạn có thể nhìn ra chung quanh để thấy bạn vẫn được trả lương đều đặn và mức lương này có thể không hề thấp. Bạn có thể nghĩ đến các yếu tố “được” mà bạn có khi làm công việc hiện tại. Ví dụ như công việc đang cho phép bạn linh hoạt giờ giấc, được giao tiếp rộng….Bạn có thể nghĩ đến những khía cạnh tích cực khác như đồng nghiệp vui vẻ, môi trường làm việc thân thiện, ngành nghề ổn định…Suy nghĩ như vậy sẽ giúp bạn phấn chấn và lạc quan hơn.

Cân bằng lại cuộc sống
Trạng thái mệt mỏi của bạn đôi khi do bạn cảm thấy “quá tải”. Đó có thể vì áp lực công việc liên tục xuất hiện khiến bạn căng thẳng. Công thêm những áp lực khác từ gia đình, từ các mối quan hệ…khiến bạn cảm thấy không còn sức lực nữa.

Bạn cần sắp xếp lại thứ tự cuộc sống của mình. Nếu công việc chiếm quá nhiều thời gian cá nhân của bạn, bạn cần điều chỉnh lại theo hướng giảm bớt và vừa sức. Ngoài ra, bạn cần tổ chức khoa học lại các bước hoàn thành công việc. Nhiều người đã cho biết, dù thời gian ít hơn nhưng nếu làm việc có kế hoạch, với một tinh thần thoải mái, bạn vẫn hoàn thành nhiệm vụ, thậm chí còn làm tốt hơn.

Bạn cũng rất cần tìm niềm vui thú trong đời sống cá nhân. Tham gia thể thao, khiêu vũ hay đọc sách, nghe nhạc, xem phim, giao lưu gặp gỡ bạn bè… là những thú tiêu khiển có thể giúp bạn duy trì được sự cân bằng cuộc sống, giúp bạn yêu đời, cảm thấy dễ chịu và sớm lấy lại năng lượng.

Tự tạo niềm vui thú
Làm mãi một công việc với những trình tự lập đi lập lại thường là nguyên nhân khiến bạn dễ rơi vào trạng thái nhàm chán. Các chuyên gia khuyên bạn hãy suy nghĩ nhiều cách khác nhau để công việc của bạn thú vị hơn. Ví dụ bạn thử thay đổi một chút xíu quy trình làm việc miễn vẫn đảm bảo công việc trôi chảy. Bạn cũng có thể trao đổi, tìm hiểu thêm những cách thức, kinh nghiệm, kiến thức mới khi giải quyết một vấn đề nào đó, quan sát đồng nghiệp ở những bộ phận khác để có tầm nhìn bao quát hơn về mô hình kinh doanh của công ty …. Những điều mới mẻ mà bạn tự trao dồi thêm trong những công việc tưởng cũ có thể sẽ giúp bạn thêm yêu công việc, bớt sự nhàm chán.

Bạn cũng có thể suy nghĩ theo hướng, mình còn những khả năng nào mà công ty chưa biết, chưa đặt đúng chỗ. Nếu bạn tự tin ở khả năng của mình, bạn có thể tự trình bày với sếp. Có thể sếp sẽ cho bạn thử sức và biết đâu, bạn sẽ tìm thấy cơ hội, niềm vui từ những nhiệm vụ mới.

Gia tăng giá trị bản thân
Có thể những khó khăn khi thực hiện công việc đã làm bạn mệt mỏi, dẫn đến buồn chán. Nếu đúng thế, bạn cần tìm cách sớm ra khỏi khó khăn này. Bạn có thể tham gia các khóa học để biết cách giải quyết công việc thành thục và tự tin hơn. Bạn tăng cường giao thiệp để có được sự hỗ trợ, chia sẻ từ người khác. Học hỏi, tìm hiểu thêm kiến thức qua sách vở, nghiên cứu… cũng giúp bạn thấy mình có giá trị hơn.

Nếu sau mọi cố gắng điều chỉnh mà bạn vẫn không thoát khỏi trạng thái chán nản, rất có thể công việc kia đã không còn hợp với tâm tư, tính cách của bạn nữa. Đã đến lúc bạn lắng nghe lại lòng mình xem bạn cần gì, muốn gì, nên làm gì. Nếu bạn thích những công việc liên quan đến nghệ thuật, đừng ép bản thân vào các con số khô khan. Hoặc ngược lại, nếu bạn có tầm nhìn, quyết đoán, bạn hãy tham gia vào các công việc kinh doanh. Làm được đúng công việc mình thích sẽ giúp bạn cảm thấy hứng thú và sáng tạo.

Có nên làm việc tại nhà, quán café thay vì đến công sở?


Có nên làm việc tại nhà, quán café thay vì đến công sở?

Hiện nay với tình hình kinh tế khó khăn, rất nhiều doanh nghiệp phải giải thể, hoặc cơ cấu lại bộ máy nhân sự, cơ cấu lại cách thức làm việc nhằm hạn chế tối đa những chi phí phát sinh không cần thiết. Trong đó hình thức cộng tác, trả lương theo năng lực đang dần trở nên phổ biến. Về phía doanh nghiệp họ không phải nuôi một bộ máy nhân sự cồng kềnh, về phía người lao động họ không cần phải tốn thời gian đến công ty, thu nhập không hạn chế, có thể làm nhiều chỗ khác nhau. Mới nghe qua thì có vẻ hấp dẫn, nhưng liệu hình thức làm việc này có thực sự hiệu quả?

Xu hướng làm việc mới
Đối với lực lượng lao động bằng chất xám, thì chỉ cần một chiếc máy tính kết nối Internet là họ có thể làm việc bất cứ nơi đâu để tạo ra sản phẩm, có thể trao đổi công việc mọi lúc mọi nơi mà không cần đến công ty. Chính vì vậy hiện nay rất nhiều người đã chọn cách làm việc tại nhà, hoặc “ngồi đồng” tại các quán café.

Đây thật sự là một hình thức làm việc tuyệt vời cho những ai không thích sự gò bó, không thích ngày nào cũng phải ngồi đủ 8 tiếng nơi công sở. Họ có thể làm nhiều việc khác nhau cùng một lúc mà không bị quản lý nhắc nhở, họ có thể kiếm nhiều tiền hơn do cộng tác với nhiều công ty khác nhau. Họ có thể vừa làm việc vừa xem phim, nghe nhạc, vừa thưởng thức café, vừa chơi game, vừa chát chít với bạn bè…đó là lý do khiến xu hướng này ngày càng phát triển.

Tuy nhiên có một thật tế là rất nhiều người khi đã vào quán café thì công việc là chuyện nhỏ, giải trí mới là chuyện lớn. Có thể mục đích ban đầu của họ là công việc, nhưng chính môi trường café đã đẩy họ rời xa mục đích ban đầu, đây thực sự là điều đáng lo ngại cho một bộ phận không nhỏ làm việc theo hình thức này.

Chính vì không có người quản lý, không phải chịu sức ép lớn từ công việc, nên họ dần trở nên “lười biếng”, gặp một chút trục trặc, gặp một chút rắc rối về ý tưởng thì họ lại tìm cách thư giản thay vì phải đầu tư suy nghĩ như ngồi làm việc tại văn phòng. Kết quả của một ngày ăn mặc đẹp, xách ba lô cặp táp ra ngoài làm việc có thể chỉ là con số 0, và khoảng tiền phải trả cho café.

Doanh nghiệp bị động
Không trả lương cho người lao động mà chỉ mua những sản phẩm cụ thể do họ làm ra, đó thật sự là quyết định thông minh của doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng có nhiều chuyện rắc rối phát sinh mà đôi khi chính doanh nghiệp là người chịu thiệt, còn người lao động mặc dù không được nhưng cũng chẳng mất gì. Đó là những rủi ro doanh nghiệp có thể gặp phải khi sử dụng nguồn lao động kiểu này.

Do chỉ là mối quan hệ cộng sinh đôi bên cùng có lợi, không có sự ràng buộc. Nên doanh nghiệp không thể bắt buộc nhân viên có mặt ở công ty 8 tiếng trên ngày, không thể bắt buộc nhân viên phải hoàn thành cho kịp tiến độ, hơn nữa lực lượng lao động này có thể nghỉ bất kỳ lúc nào, vừa tốn công sức đào tạo nhưng chưa chắc đã mang lại hiệu quả thiết thực như doanh nghiệp mong muốn.

Hao mòn chất xám
Nếu thật sự ngồi ở nhà có thể làm tốt công việc, nếu như ngồi quán café có thể kiếm được nhiều tiền thì chẳng ai dại gì phải đến công ty. Quán café có thể là nơi hội họp, có thể là nơi gặp gỡ trao đổi công việc, có thể là nơi thư giản để tìm những ý tưởng hay cho công việc. Nhưng nó không thể trở thành nơi làm việc, đó là một thực tế.

Người ngồi ở quán café đa phần là nhận được những giá trị ảo, họ cứ cho rằng mình đang làm việc, họ cứ tưởng ăn ngon mặc đẹp ôm laptop ngồi quán café là thành đạt, những ai đã từng trải qua quá trình đó khi nhìn lại chắc chắn sẽ nhận ra rằng đó đơn giản chỉ là quá trình…thất nghiệp không hơn không kém.

Có mấy ai ngồi đủ 8 tiếng ở nhà để chú tâm vào công việc, nếu có thì được mấy ngày. Có mấy người ngồi làm việc nghiêm túc tại quán café, và nếu có thì làm được bao lâu. Nói lên điều đó để thấy được rằng chính môi trường là yếu tố cực kỳ quan trọng để mang lại hiệu quả công việc, một môi trường công sở sẽ thích hợp với công việc hơn là quán café đó là điều tất yếu.

Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là ai làm việc tại nhà hoặc quán café đều không tạo ra năng suất, và ngược lại không phải ai hằng ngày xách cặp tới công ty cũng mang lại hiệu quả tối ưu cho công việc, điều đó tùy thuộc và ý chí và cách làm việc của mỗi người. Nhưng về lâu dài thì bạn không thể nào suốt ngày ngồi ở nhà hoặc quán café để làm việc, chính điều đó sẽ khiến bạn ngày trở nên xa rời công việc. Ông bà ta có câu “gần mực thì đen gần đèn thì sáng”, một môi trường làm việc chuyên nghiệp năng động sẽ giúp bạn ngày một chuyên nghiệp hơn, ngược lại một môi trường mang đậm tính sinh hoạt, tính giải trí sẽ khiến con người ngày càng trở nên “nghiệp dư” trong công việc. Do đó đây không thể là xu hướng làm việc tuyệt vời cho tương lai như nhiều người mong đợi.

Lịch sử cây cà phê


Lịch sử cây cà phê

1.1 Nguồn gốc

Những câu chuyện về cà phê thì rất nhiều, thực hay hư thì cũng ít ai kiểm chứng, đôi khi họ phóng đại lên cho nó ly kỳ, thú vị như chính cái hậu vị để lại khi giọt cà phê tan vào trong từng tế bào cảm giác!
Trong những câu chuyện đó, từ chuyện nghe có vẻ hợp lý nhất là câu chuyện về anh chàng chăn dê tên Kaldi người xứ Abyssinia với đàn dê của anh ta. Chuyện kể rằng, đàn dê của anh đã ăn một loại quả cây lạ có màu đo đỏ rồi sau đó có những biểu hiện lạ thường. Kaldi phát hiện ra điều đó, anh liều ăn thử và thấy mình hưng phấn hẳn lên, ngờ rằng mình đã gặp một phép lạ bèn báo ngay cho vị quản nhiệm ở một tu viện gần đó. Nhà tu kia sợ rằng đây chính là một thứ trái cấm của quỷ dữ nên lập tức vứt vào lò lửa, thế nhưng khi những quả kia cháy xém tỏa ra một mùi thơm lừng, đến lúc này người tu sĩ kia mới tin rằng đó là một món quà của Thượng Đế ban tặng nên vội kêu thêm những tăng lữ khác đến tiếp tay. Họ đem rang lên, giã nhỏ rồi pha vào nước uống để mọi người cùng hưởng thiên ân. Đến những câu chuyện về sự độc hại của cà phê, như câu chuyện ở đất nước Thụy Điển, quốc vương Gusitafu đệ tam muốn thử xem cà phê có độc hay không bèn ra quyết định bắt hai anh em tội phạm bị kết án tử hình đang giam trong ngục mỗi ngày phải được cho uống thứ nước làm từ quả ấy hai lần, thử xem họ chết ra sao? Đến lúc chết, vị hoàng đế này vẫn để lại di chỉ cho người kế vị là phải tiếp tục làm theo lệnh của ông ta, như một phép lạ, hai tử tù kia qua đời ở tuổi hơn 80! Và có lẽ đó là ghi nhận đầu tiên của loài người về tính dược lý của cà phê, …
images17 Lịch sử cây cà phê
Đó là truyền thuyết, còn những di chỉ khảo cổ, những ghi chép của con người còn lại cho đến ngày nay. Người ta biết rằng, Kaffa (Ethiopia ngày nay) chính là vùng đất khởi nguyên của cây cà phê, từ thế kỷ thứ IX đã có những ghi nhận ở đây, đến thế kỷ XIV những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang xứ Ả Rập. Nhưng tới tận thế kỷ XV người ta mới biết rang cà phê lên và sử dụng làm đồ uống. Cà phê đã trở thành một thức uống truyền thống của người Ả Rập và là nơi trồng cà phê độc quyền với trung tâm giao dịch cà phê là thành phố cảng Mocha, hay còn được gọi là Mokka, tức là thành phố Al Mukha thuộc Yemen ngày nay. Người Ả Rập rất tự hào về phát minh ra loại thức uống này và giữ bí mật để bảo tồn độc quyền về một loại sản phẩm. Họ đưa ra những chế tài rất chặt chẽ trong việc sản xuất và xuất khẩu cà phê như: Chỉ mang hạt ra khỏi xứ sau khi đã rang chín,người ngoại quốc cũng bị cấm không cho bén mảng đến các đồn điền cà phê. Thế nhưng dù nghiêm ngặt đến mức nào thì cũng có người vượt qua được, những khách hành hương được thưởng thức nước cà phê đã lén lút mang hạt giống về trồng, chẳng bao lâu khắp khu vực Trung Đông đều có trồng và truyền đi mỗi lúc một xa hơn.
1.2 Du nhập vào Châu Âu
Sau nhiều lần thất bại, người Hà Lan là dân tộc đầu tiên ở Châu Âu lấy được hạt giống cây này mang về thử trồng ở đảo Java ( khi đó là thuộc địa của họ).
Năm 1723, một sĩ quan hải quân Pháp tên De Clieu được về nghỉ phép ở Paris, đã quyết định đem cây này về xứ Martinique nơi anh trú đóng. Sau nhiều hoạn nạn De Clieu cũng trồng được cây cà phê ở một nơi kín đáo với 3 thủy thủ canh gác ngày đêm. Hơn 50 năm sau, Pháp trở thành đối thủ cạnh tranh gay gắt với Hà Lan, bất đồng xảy ra không thể giải quyết họ nhờ đến chính quyền Brasil đứng ra dàn xếp. Đây là cơ hội, với những quỷ kế, Brasil đã mang được hạt giống về nước và đây là khởi đầu cho giống cà phê trồng tại Brasil, biến các quốc gia Trung, Nam Mỹ trở thành những đế quốc cà phê lớn bậc nhất thế giới.
Trong khi đó, vào năm 1660 cà phê được người Hà Lan truyền vào Bắc Mỹ ở vùng Amsterdam, Bốn năm sau, người Anh chiếm vùng này và đặt tên là New York, cà phê trở thành một thức uống quen thuộc chỉ dành cho giới thượng lưu trong khi trà là thức uống phổ thông trong mọi tầng lớp. Thế nhưng đến năm 1773, khi Anh Hoàng George đánh thuế trà và người dân Mỹ nổi lên chống lại thì tình hình thay đổi. Người Mỹ giả dạng dân da đỏ tấn công những tàu chở trà đem đổ xuống biển. Biến cố lịch sử dưới tên Boston Tea Party đã làm cho người Mỹ nghiêng qua uống cà phê và chẳng bao lâu thức uống này trở thành quốc ẩm.
1. 3. Lịch sử phát triển cây cà phê ở Việt Nam
Lần đầu tiên cà phê được đưa vào Việt Nam vào năm 1875, giống Arabica được người Pháp mang từ đảo Bourton sang trồng ở phía Bắc sau đó lan ra các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Bố Trạch, … Sau thu hoạch chế biến dưới thương hiệu “Arabica du Tonkin”, cà phê được nhập khẩu về Pháp. Sau khi chiếm nước ta thực dân Pháp thành lập các đồn điền cà phê như Chinê, Xuân Mai, Sơn Tây chúng canh tác theo phương thức du canh du cư nên năng suất thấp giảm từ 400 – 500 kg/ha những năm đầu xuống còn 100 – 150 kg/ha khi càng về sau. Để cải thiện tình hình, Pháp du nhập vào nước ta hai giống mới là cà phê vối (C. robusta) và cà phê mít ( C. mitcharichia) vào năm 1908 để thay thế, các đồn điền mới lại mọc lên ở phía Bắc như ở Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ (1911, Thanh Hoá), Nghĩa Đàn (1915, Nghệ An). Thời điểm lớn nhất (1946 – 1966) đạt 13.000 ha. Năm 1925, lần đầu tiên được trồng ở Tây Nguyên, sau giải phóng diện tích cà phê cả nước khoảng 20.000 ha, nhờ sự hỗ trợ vốn từ quốc tế, cây cà phê dần được chú trọng, đến năm 1980 diện tích đạt 23.000 ha, xuất khẩu trên 6000 tấn. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002).
Trận sương muối năm 1994 ở Brasil đã phá huỷ phần lớn diện tích cà phê ở nước này, cộng hưởng đợt hạn hán kéo dài năm 1997 đã làm nguồn cung trên toàn thế giới sụp giảm mạnh, giá tăng đột biến đã khích lệ mở rộng diện tích cà phê ở Việt Nam, đầu tư kỹ thuật canh tác thâm canh, chuyên canh, … nhờ đó diện tích và sản lượng tăng nhanh, trung bình 23,9%/năm, đưa tổng diện tích cây cà phê năm 2000 lên đến 516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của Việt Nam, đứng thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô (chiếm 5,7%). Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các năm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ lệ lần lượt là 48,5%, 45,8% và 33%). Năm 2000, Việt Nam có khoảng 520 nghìn ha cà phê, tổng sản lượng đạt 800 nghìn tấn. Nếu so với năm 1980, diện tích cà phê của Việt Nam năm 2000 đã tăng gấp 23 lần và sản lượng tăng gấp 83 lần. Mức sản lượng và diện tích vượt xa mọi kế hoạch trước đó và suy đoán của các chuyên gia trong nước và quốc tế.
Cho đến nay sản lượng cà phê cả nước chiếm 8% sản lượng nông nghiệp, chiếm 25% giá trị xuất khẩu và là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới với hai tỉnh có diện tích canh tác lớn nhất là ĐăkLăc và Gia Lai, mang lại việc làm ổn định, thu nhập cao cho hàng triệu người. Góp phần ổn định kinh tế xã hội ở những vùng xa xôi hẻo lánh, dân tộc ít người, …
2. Đặc tính cây cà phê
2.1. Đặc tính thực vật
hht1 500x350 Lịch sử cây cà phê
Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiên thảo (Rubiaceae). Họ này bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt đới.
Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau. Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy. Chỉ có hai loài cà phê có ý nghĩa kinh tế. Loài thứ nhất có tên thông thường trong tiếng Việt là cà phê chè (tên khoa học: Coffea arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: Coffea canephora hay Coffea robusta), chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Ngoài ra còn có Coffea liberica và chari (ở Việt Nam gọi là cà phê mít) với sản lượng không đáng kể.
Cà phê thuộc giống coffea gồm 70 loại khác nhau, nhưng chỉ có khoảng 10 loại có giá trị kinh tế và trồng trọt. Hiện nay thường trồng 3 loại chính:
 Giống Arabica.
 Giống Robusta.
 Giống Chari.
Ba giống này có thời vụ xen kẽ nhau tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng trọt và thu hoạch.
2.1.1 Cà phê Arabica.
Tên khoa học là Coffee arabica, thường được gọi là cà phê chè, đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Có nguồn gốc từ Cao Nguyên nhiệt đới Ethiopia đông Phi Châu.
Arabica cao từ 3 – 7 m tùy điều kiện đất đai, khí hậu, độc thân hoặc nhiều thân, lá nhỏ hình oval hoặc lưỡi mác, cành nhỏ mảnh khảnh ít phân nhánh, tán nhỏ, quả hình bầu dục đôi khi hình tròn, quả chín có giống màu vàng có giống màu đỏ tươi, đường kính 10 – 15 mm, thường có hai nhân, hiếm khi có ba nhân, cuống quả khi chín rất mềm dễ rụng, nứt khi trời mưa. Thời gian nuôi quả 6 – 7 tháng, khí hậu lạnh ở miền Bắc arabica chín rộ vào tháng 12 – 1 năm sau và muộn hơn 2 – 3 tháng so với Tây Nguyên. Khoảng 800 – 1200 quả/kg, cứ 2,5 – 3 kg hạt cho ra 1 kg nhân, nhân có màu xám xanh, xanh lục,xanh nhạt, …Tuỳ theo phương pháp chế biến lượng caffein trong nhân khoảng 1 – 3%.
2.1.2. Cà phê Robusta
hht3 Lịch sử cây cà phê
 Hoa và quả chín cà phê Robusta.
Tên khoa học: Coffea canephora hay Coffea robusta, thường được gọi là cà phê vối, chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Có nguồn gốc từ khu vực sông Conggô và miền núi thấp xích đạo và nhiệt đới Tây Phi Châu.
Robusta cao 5 – 7 m, độc thân hoặc nhiều thân, cành khá lớn phân nhiều nhánh, tán rộng, lá trung bình mặt lá gồ ghề. Đặc biệt, hoa robusta không bao h ra lại vào mùa sau tại vị trí cũ, quả chín màu đỏ sẫm, đường kính 10 – 13 mm, hình bầu dục hoặc tròn có hai nhân đôi khi một nhân, vỏ quả cứng và cuống dai hơn arabica. Cứ khoảng 3 kg quả cho ra 1 kg nhân, nhân hình bầu dục hơi tròn có màu xám xanh, xanh bạc, vàng mỡ gà,…Tuỳ thuộc vào cách chế biến lượng caffein có khoảng 1,5 – 3%.
2.1.3. Cà phê Chari
Tên khoa học: Coffea chari, ở Việt Nam thường được gọi là cà phê mít. Có nguồn gốc ở xứ Ubangui Chari thuộc Biển Hồ gần xa mạc Xahara, du nhập vào Việt Nam năm 1905, cây lớn cao 6 – 15 m lá to hình trứng hoặc hình lưỡi mác, gân lá nổi lên ở mặt dưới, cành lớn tán rộng. Quả hình bầu dục, núm to và lồi, tùy điều kiện khí hậu vùng đất quả sẽ chín sớm hơn hoặc cùng lúc với thời điểm cây ra hoa, cà phê mít có đặc điểm ra hoa tại vị trí cũ vào vụ kế tiếp nên vào vụ thu hoạch (tháng 5 – tháng 7) trên tại một đốt cành có thể có cùng lúc quả xanh, quả chín, nụ, hoa. Đây là yếu tố bất lợi cho thu hoạch và giảm năng suất.
Hoa của ba loại cà phê trên thường nở đồng loạt, thành chùm màu trắng muốt, hương thơm ngào ngạt. Hoa chỉ nở trong 3 – 4 ngày, thời gian thụ phấn khoảng 2 – 3 h. Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 – 40.000 hoa.
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới cây cà phê
+ Vị trí địa lí
- Đất đai:
Cà phê có rễ cọc ăn sâu vào đất nên đất trồng cà phê phải có tầng sâu 70 cm trở lên, thoáng khí, tiêu nước tốt. Chất lượng đất quyết định chất lượng cà phê.
Đất bazan trên các Cao Nguyên nham thạch núi lửa là thích hợp nhất cho cây cà phê.
- Khí hậu:
Cà phê là cây nhiệt đới nên đòi hỏi nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa khá cao và tùy từng chủng: Cà phê chè ưa mát, nhiệt độ tối ưu 20 – 220C, ánh sáng tán xạ nên thường được trồng ở miền núi cao 600 – 2.500 m, lượng mưa cần 1300 – 1.900 mm.
Cà phê vối ưa nóng ẩm , nhiệt độ 24 – 260C, thích ánh sáng trực xạ yếu, thường được trồng ở các Cao Nguyên thấp và Bình Nguyên. Lượng mưu cần từ 1.300 – 2.500 mm.
Cà phê mít tương tự cà phê vối nhưng do cây lớn, lá dày hơn, rễ ăn sâu hơn nên chịu khô hạn hơn.
Không ưa gió, vì gió to dễ làm gãy cành, rách lá (vối), trụi lá.
Không ưa lạnh, nhiệt độ thấp cây kém phát triển, chậm ra hoa hoặc nụ hoa không nở.
Độ ẩm: Cần độ ẩm cao, trên 70%, đặc biệt vào giai đoạn cây nở hoa.
Yếu tố kỹ thuật:
Yêu cầu kỹ thuật chăm sóc rất quan trọng, trong canh tác cây cà phê nếu không nắm vững kỹ thuật chăm sóc sẽ nhanh chóng làm cây già cỗi, sâu bệnh, giảm năng suất trầm trọng, các kỹ thuật cơ bản:
Tỉa cành, tạo tán, hoạch định chiều cao, tuyển chọn cành nhánh khỏe mạnh triển vọng, …
Ủ gốc, tưới tiêu là cực kỳ quan trọng, nó quyết định năng suất cà phê vì cà phê ra hoa vào cuối mùa nắng nhưng không kịp vào mùa mưa (điều kiện tự nhiên mưa đầu mùa làm rụng hoa, hỏng hoa), nên phải tưới tiêu và giữ ẩm để hoa nở rộ, đồng loạt.
Bón phân đúng loại, đúng cách, đúng kì, đúng số lượng cần thiết.
Theo dõi diễn tiến khí hậu, sâu bệnh, cỏ dại, sương muối, …
Mật độ, xen canh cũng rất quan trọng.
2.3 Cấu tạo và thành phần hóa học của quả cà phê[15]
2. 3. 1 Cấu tạo giải phẫu
Quả cà phê bao gồm các phần như sau: Lớp vỏ quả, lớp nhớt, lớp vỏ trấu, lớp vỏ lụa, nhân.
Lớp vỏ quả: Là lớp vỏ ngoài cùng, có màu đỏ, đỏ sẫm hoặc vàng tùy chủng, mền, cà phê chè mền hơn cà phê vối và cà phê mít.
Lớp vỏ thịt (lớp nhớt): nằm dưới lớp vỏ, mền. Vỏ thịt cà phê vối và cà phê chè mền, ngọt, mỏng, dễ bong tróc khi xay xát hơn cà phê mít.
Vỏ trấu: Là một lớp vỏ cứng bao bọc nhân, cấu tạo chủ yếu là cellulose. Vỏ trấu cà phê chè mỏng hơn, dễ vỡ hơn cà phê vối và cà phê mít.
Vỏ lụa: Nằm dưới lớp vỏ trấu, mỏng, mền, có màu sắc tùy chủng như đã trình bày.
Nhân cà phê: Lớp tế bào phần ngoài của nhân cứng, có những tế bào nhỏ, trong có chứa những chất dầu. Phía trong có những tế bào lớn và mềm hơn. Một quả cà phê thường có từ 1 ( Biculi), 2 hoặc 3 nhân. Thông thường chỉ có 2 nhân (vối, mít, chè). Trong nhân có phôi mầm.
2. 3. 2 Cấu tạo hóa học
Vỏ quả: Có màu đỏ do chất antoxian và các vết alkaloid, trong vỏ chứa 21,5 – 30% chất khô (tanin, caffein, các enzyme, …)
Vỏ thịt: Là những tế bào mềm chứa nhiều đường và pectine, ngoài ra còn có enzyme pectinase phân giải pectine trong quá trình lên men và lên men đường làm pH dao động trong khoảng 5,6 – 6,4.
Vỏ trấu: Chứa chủ yếu là cellulose, một ít caffein (0,4%) do khếch tán từ vỏ trong lúc phơi khô hoặc lên men.
Nhân: Nước chiếm 10 – 12%, protein chiếm 9 – 11%, lipid chiếm 10 – 13%, các loại đường chiếm 5 – 10%, tinh bột chiếm 3 – 5%. Ngoài ra còn có một số chất thơm, khoáng và alkaloid. Thành phần hóa học của nhân quyết định chất lượng cà phê, nó phụ thuộc vào chủng loài, điều kiện đất đai, kỹ thuật canh tác, phương pháp chế biến bảo quản, …Và trong chế biến cà phê thì thành phần hóa học của nhân là nhân tố quan tâm hàng đầu.
Bảng I.1: Thành phần hoá học của nhân
hht2 500x488 Lịch sử cây cà phê
Vai trò của một số chất hóa học trong việc tạo ra màu – mùi – vị đặc trưng của cà phê
Hydratcarbon: Hàm lượng hydratcarbon trong cà phê khô khoảng 60%. Phần lớn là các polysaccharide hòa tan hoặc không hòa tan trong nước và một phần nhỏ là các đường saccharose, glucose, … Trong quá trình rang các hydratcarbon biến đổi nhiều, chúng có thể phân hủy thành các hợp chất khác nhau hoặc biến mất hầu như hoàn toàn như các chất đường đã nói trên. Các đường khử tham gia một số phản ứng tạo màu và mùi cho cà phê rang. Các polysaccharide không hòa tan trong nước, chúng tạo nên những thành tế bào của hạt cà phê và sau khi pha trở thành bã cà phê.
Các chất béo: Trong cà phê nhân tổng hàm lượng chất béo chiếm khoảng 13%. Trong quá trình rang các hợp chất béo mất đi 1 – 2%. Các chất béo chủ yếu tạo thành dầu cà phê là trigliceride và diterpene, là dạng este của acid bão hòa, nhất là panmitic, behenic, arachidic. Các diterpene này rất nhạy với acid, nhiệt và ánh sáng. Hàm lượng diterpene giảm đi trong quá trình bảo quản cũng như quá trình rang có thể là do tạo thành các terpnene bay hơi, naphtalene và quinoline.
Các acid: Đại diện quan trọng nhất của nhóm acid là các loại acid chlorogenic. Đây là những loại acid đặc trưng đối với cà phê. Trong quá trình rang chúng bị phân hủy 30 – 70%, sau khi rang có sự hình thành một số acid dễ bay hơi. Tất cả các acid này đều góp phần tạo vị chua của cà phê.
Các loại protein: Hầu như không có mặt trong cà phê rang, do rang ở nhệt độ cao nên một phần bị phân hủy, phần còn lại kết hợp với hydratcarbon và các acid chlorogenic tạo thành những chất màu nâu. Bằng phương pháp thủy phân, người ta thấy trong thành phần protein của cà phê có những acid amin sau: cysteine, alanine, phenylalanine, histidine, leucine, lysine, …. Các acid amin này ít thấy ở trạng thái tự do, chúng thường ở dạng liên kết.  Khi gia nhiệt, các mạch polypeptide bị phân cắt, các acid amin được giải phóng ra tác dụng với nhau hoặc tác dụng với những chất tạo mùi và vị cho cà phê rang. Trong số các acid amin kể trên đáng chú ý nhất là những acid amin có chứa lưu huỳnh như cystein, methionine và proline, chúng góp phần tạo nên hương vị đặc trưng của cà phê sau khi rang.  Đặc biệt, methionine và proline có tác dụng làm giảm tốc độ oxi hóa các chất thơm, làm cho cà phê rang giữ được mùi vị khi bảo quản. Trong quá trình chế biến chỉ có một phần protein bị phân giải thành acid amin, còn phần lớn bị biến thành hợp chất không tan.
Các loại alkaloid: Trong quá trình rang, hàm lượng caffein hầu như không thay đổi. Trigoneline giảm khoảng 75%, tạo thành các sản phẩm gồm acid nicotinic (niacin), nicitinamide và các chất thơm bay hơi như pyrine và pyrol. Trong đó đáng chú ý nhất là niacin, trong cơ thể con người có tác dụng như một loại vitamine.
Các chất thơm: Trong thành phần của các hợp chất thơm có khoảng 50% aldehyde, 20% ketone, 8% ester, 7% heterocylic, 2% dimethylsulfide, một lượng ít hơn là các sulfide hữu cơ khác, còn có một lượng nhỏ nitrile, alcohol hoặc các hydrocarbon đã bão hòa và chưa bão hòa có trọng lượng phân tử thấp như isoprene.
Các chất khoáng: Hàm lượng chất khoáng trong cà phê khoảng 3 – 5%, chủ yếu là kali, nitơ magie, photpho, clo. Ngoài ra còn thấy nhôm, sắt, đồng, iod, lưu huỳnh, …những chất này ảnh hưởng không tốt đến mùi vị cà phê.  Chất lượng cà phê cao khi hàm lượng chất khoáng càng thấp và ngược lại.

Giá cà phê tiếp tục tăng cao vì khô hạn


Giá cà phê tiếp tục tăng cao vì khô hạn

Các hộ trồng cà phê tại Tây Nguyên đang hạn chế bán hàng ra nhằm chờ mức giá cao hơn trong bối cảnh sản lượng cà phê niên vụ này có thể giảm mạnh vì thời tiết khô hạn.

00 8edac Giá cà phê tiếp tục tăng cao vì khô hạn
Một cuộc thăm dò ý kiến các thương nhân và nhà vận tải cà phê do hãng tin tài chính Bloomberg thực hiện cho thấy, nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên có thể đã bán ra 820.000 tấn cà phê tính tới thời điểm này của niên vụ, tương đương 57% sản lượng thu hoạch, so với mức bán ra khoảng 60% sản lượng cùng thời điểm này năm ngoái.
Niên vụ cà phê 2012-2013 bắt đầu vào tháng 10 năm ngoái, với mức sản lượng có khả năng giảm khoảng 13% còn 1,43 triệu tấn từ mức kỷ lục 1,65 triệu tấn trong niên vụ 2011-2012 – theo kết quả cuộc thăm dò nói trên.
Nguồn cung cà phê từ châu Á suy giảm có thể sẽ khiến giá cà phê robusta tăng năm thứ 2 liên tục, theo Bloomberg. Xuất khẩu từ Indonesia, nước sản xuất cà phê robusta lớn thứ ba thế giới, đang suy giảm do tiêu dùng cà phê nội địa ở nước này tăng. Theo dự báo, xuất khẩu cà phê của Indonesia trong vòng 12 tháng bắt đầu vào ngày 1/4 tới có thể chỉ đạt mức 450.000 tấn, thấp hơn 7,4% so với mức 486.000 tấn của năm nay.
Trong khi đó, nhu cầu cà phê robusta toàn cầu đang gia tăng do nhu cầu sử dụng cà phê arabica đắt tiền hơn suy giảm. Tăng trưởng tiêu thụ cà phê hòa tan được báo sẽ vượt mức tăng trưởng tiêu thụ cà phê rang xay. Cà phê robusta được sử dụng để sản xuất cà phê hòa tan, trong khi cà phê arbica được dùng để chế biến các loại cà phê rang xay cao cấp như trong chuỗi nhà hàng cà phê Starbucks.
Số liệu từ Macquire cho thấy, trong vòng 1 năm tính đến tháng 9/2012, lượng tiêu thụ cà phê robusta toàn cầu đã tăng 11%, trong khi tiêu thụ cà phê arabica giảm 6,2%. Còn theo dự báo của Rabobank International, nhu cầu cà phê hòa tan sẽ tăng 6,5% trong thời gian từ năm 2012-2017, cao hơn mức tăng 6% dự báo cho cà phê rang xay trong cùng khoảng thời gian.
“Rất khó để mua cà phê vào thời điểm này vì các hộ tiếp tục găm hàng chờ giá cao hơn”, ông Lê Tiến Hùng, Phó giám đốc công ty Xuất nhập khẩu 2/9, cho biết. Theo ông Hùng, thời tiết khô hạn có thể ảnh hưởng tới sản lượng vụ thu hoạch tới, nên các hộ trồng cà phê càng không muốn bán hàng.
Sáng nay (8/3), giá cà phê tại Tây Nguyên đạt mức 43.700-43.800 đồng/kg, cao nhất kể từ đầu tháng 10/2012 và tăng 700 đồng/kg so với hôm qua.
Mực nước tại nhiều hồ chứa của các tỉnh Tây Nguyên hiện chỉ ở mức 20-50% công suất thiết kế. Các cơ quan chức năng đã đưa ra cảnh báo rằng, thời tiết khô hạn hiện nay có thể ảnh hưởng xấu tới sản lượng lúa gạo và cà phê.
Cơ quan Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương nhận định, thời tiết khô hạn ở 5 tỉnh trồng cà phê lớn nhất Tây Nguyên, bao gồm Đắc Lắc, sẽ còn tiếp tục và có thể trở nên nghiêm trọng hơn. Cây cà phê trồng ở Tây Nguyên thường ra hoa và kết quả trong thời gian từ tháng 1-3 hàng năm.
Chốt phiên giao dịch ngày 7/3 tại London, giá cà phê robusta giao sau tăng 38 USD/tấn, lên mức 2.123 USD/tấn. Từ đầu năm tới nay, giá cà phê robusta tại London đã tăng 10%, sau khi tăng 6,3% trong năm 2012.
Tại New York, giá cà phê arabica giao tháng 5 tăng 1,85 cent/pound lên mức 1,431 USD/pound. Mức chênh giá giữa cà phê arabica so với cà phê robusta đã giảm 21% trong năm nay sau khi giảm 61% trong năm 2012.
Theo số liệu của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), sản lượng cà phê của châu Á đã tăng 13%, đạt mức 41 triệu bao loại 60 kg trong niên vụ 2011-2012. Châu Á chiếm 30,5% sản lượng cà phê toàn cầu.
Cà phê robusta chủ yếu trồng ở châu Á và một số nước châu Phi. Trong khi đó, cà phê arabica được trồng chính ở Mỹ Latin

rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu cà phê


Trong thị trường hàng hóa nói chung, giá giảm thì có người than lỗ, giá tăng cũng có người than lỗ. Vậy đâu là rủi ro và làm sao để tránh các rủi ro này?
Đây là câu hỏi muôn thuở đã có nhiều lời giải đáp. Đây chỉ là một hướng tiếp cận mà thạc sĩ Lê Hoàng Nhi, chuyên gia luật về các công cụ và thị trường tài chính – Đại học Paris 11, thạc sĩ tài chính – Sorbonne Panthéon Paris 1 chia sẻ cùng doanh nghiệp và những ai quan tâm trên chuyên trang thị trường cà phê.
Theo dõi chủ đề: > Tìm hiểu thị trường cà phê kỳ hạn (Tác giả: Kinh Vu)
Trong phạm vi bài viết này, tác giả lấy trường hợp giá cà phê, mặt hàng vốn sôi động nhất nhì trong thị trường giao dịch hàng hóa thế giới (gồm dầu thô, cà phê và vàng) để bạn đọc dễ hình dung.
Rủi ro về giá trong kinh doanh cà phê
Giá cà phê giao dịch tại London 2 tuần qua ( Data giacaphe.com )

Giá và rủi ro: chạy trời không khỏi nắng

Trong thời kỳ mà mọi người phập phòng về nguy cơ khủng hoảng nợ ở Châu Âu, sự mất tín nhiệm của dân chúng đối với thị trường tài chính, người ta rộn ràng nhắc đến rủi ro và phòng chống rủi ro.
Thế giới biết về rủi ro và phòng chống từ lâu. Nhưng, kể từ khi giải Nobel kinh tế được trao cho Paul Krugman vào năm 2008 để vinh danh cho tài năng và những đóng góp lớn lao của ông về lý thuyết thương mại và địa lý kinh tế, mọi người chú ý tìm hiểu các công trình của ông. Họ giật mình vì cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ cùng năm đó đã được Paul Krugman dự báo qua tác phẩm “Sự trở lại của kinh tế học suy thoái” trước đấy cả chục năm.
Cùng đọc lại những bài viết của Krugman đã cảnh báo, mọi người mới bừng tỉnh và ngậm ngùi nếm trái đắng cho việc xem thường những rủi ro. Từ đó, cả thế giới mới bắt đầu chịu nhìn nhận lại và đưa việc dự báo và phòng chống rủi ro về đúng tầm.
Bàn về chủ đề rủi ro trong kinh doanh, đây là đề tài rộng vì cứ mỗi lãnh vực, ngóc ngách kinh doanh đều tiềm ẩn rủi ro và cách phòng chống thì không giống nhau. Bài viết này xin kể câu chuyện về rủi ro giá hàng hóa, cụ thể hơn là giá trong hoạt động kinh doanh cà phê hạt.
Câu chuyện đầu tiên là câu chuyện về giá giảm. Câu chuyện bắt đầu từ cách đây tầm 20 năm. Thuở ấy, ít thông tin, giá cà phê còn bấp bênh, đời sống những người nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên cũng bấp bênh theo giá. Cứ mỗi năm được mùa cà phê thì nhà cửa xóm làng thay đổi, đường phố có nhiều xe đời mới và con cái thì được gởi đi học thành phố.
Còn khi giá cà phê xuống thấp, có lúc chỉ còn 5.000 đồng/kg, con cái bị kéo trở về học ở buôn làng, nhiều rẫy cà phê phải bị đốt. Khi được giá tăng trở lại, con cái lại được gởi đi học, nhà nhà lại trồng cà phê. Giá thấp hay cao nằm ngoài tầm tay của nông dân. Con người ta thích nghi với tình huống. Rủi ro và phòng chống là một khái niệm xa xỉ đối với họ. Đó là chuyện ngày xưa.
Ngày nay, cùng với sự phát triển Internet, nông dân ngày nay ngồi ở nhà cũng biết được giá cà phê trên thế giới ở thời gian thực. Khái niệm rủi ro và phòng chống cũng không có gì xa lạ trong nghề cà phê.
Cũng may, giá cà phê trong năm qua tăng cao, người nông dân hưởng chút lợi. Thế nhưng, hàng loạt doanh nghiệp xuất khẩu cà phê phải thua lỗ. Nhiều doanh nghiệp đã bán trước trước ở giá thấp buộc phải gom hàng ở giá cao để xuất khẩu. Gặp lúc khủng hoảng kinh tế, tín dụng khó khăn, họ không mua được hàng để giao dẫn đến xù hàng. Nhiều doanh nghiệp điêu đứng, thiệt hại nặng nề, phá sản. Thiệt hại về vật chất thì có thể tính toán được, nhưng thiệt hại về uy tín thì không thể đo đếm và hậu quả còn có thể kéo dài. Đó là câu chuyện giá tăng.
Rõ ràng là giá giảm hay tăng cũng gây thiệt hại nặng nề, không cho nhóm này thì cũng cho nhóm khác trong chuổi cung ứng cà phê. Do đó, tùy vị thế kinh doanh mà xác định xem đâu giá giảm hay tăng là rủi ro của mình.
Nôm na là thế này, ta xem có hai nhóm người trong chuổi cung ứng: nhóm nắm giữ hàng (long position) và nhóm cần hàng (short position). Nhóm nắm giữ hàng lo sợ giá rớt và nhóm cần hàng lo sợ giá tăng. Xem như lo sợ giá rớt hay giá tăng là rủi ro của họ.
Nhóm nắm giữ hàng (long position)Nhóm cần hàng (short position)
Giá giảmLỗ (rủi ro)Lời
Giá tăngLờiLỗ (rủi ro)
Giá như thị trường chỉ có một loại giá và mọi người chăm chăm tránh các rủi ro này thì câu chuyện khá đơn giản. Ngành cà phê còn có thêm mấy cách tính giá khác làm cho việc quản lý rủi ro trở nên phức tạp hơn.

Nhiều giá: lắm công cụ, nhiều rủi ro

Những ai mới bước vào nghề buôn bán cà phê, họ hẳn sẽ phải toát mồ hôi với đủ loại giá. Có nhiều khái niệm liên quan đến giá phải nhớ như: giá cộng, giá trừ lùi; giá “chốt trước”, “chốt sau”; giá chốt, giá kỳ hạn…
Để đơn giản hóa vấn đề theo hướng tiếp cận của quản trị rủi ro, tôi xin chia giá thành 3 nhóm giá cơ bản: giá “chốt trước” (outright), giá “chốt sau” (PTBF – price to be fixed) và giá niêm yết trên thị trường kỳ hạn (giá futures).
Giá “chốt trước” là giá mà hai bên đã thống nhất ngay khi có hợp đồng, bao gồm cả trường hợp giao ngay (spot) hay giao sau (forward) hay giao trên thị trường kỳ hạn (futures). Giá “chốt sau” là giá mà hai bên thỏa thuận sẽ chốt vào một thời điểm trong tương lai.
Về thực chất, giá “chốt trước” hay “chốt sau” đều lấy căn cứ vào giá trên thị trường kỳ hạn. Phần chênh lệch giữa giá trên thị trường kỳ hạn và giá “chốt trước”, “chốt sau” được gọi là giá chênh lệch (differential price). Gọi giá “differential” là giá chênh lệch vì rằng nó có thể là giá trừ lùi hay giá cộng. Tùy theo giá trị hoặc nhu cầu thị trường mà giá chênh lệch có thể là trừ lùi nhiều hay ít hoặc thậm chí cộng thêm so với giá niêm yết trên thị trường kỳ hạn.
Rủi ro giờ đây không chỉ đơn thuần là giá cao, giá thấp mà phải còn tính đến sự dao động của giá chênh lệch.
Người bán thì bao giờ cũng muốn bán ở giá cao, người mua muốn mua ở giá thấp. Giá ký kết (chốt trước hay chốt sau) hình thành dựa vào giá kỳ hạn và giá chênh lệch (giá cộng hoặc giá trừ).
Trong trường hợp giá kỳ hạn không đổi thì giá chênh lệch càng cao, người bán có lợi, giá chênh lệch thấp, người mua có lợi. Quan hệ rủi ro dựa vào giá chênh lệch được mô tả theo như ma trận sau:
Người muaNgười bán
Giá chênh lệch cao (tăng tiến đến giá cộng)Lỗ (rủi ro)Lời
Giá chênh lệch thấp (giảm tiến về giá trừ lùi)LờiLỗ (rủi ro)
Như đã nói ở trên, rủi ro xảy ra chỉ khi giá biến động. Do đó, trong trường hợp giá “chốt trước”, tức giá mà hai bên đã thống nhất (“chốt giá kỳ hạn”) ngay khi có hợp đồng. Để có lời trong kiểu kinh doanh này, nông dân hoặc người kinh doanh phải tính trước các chi phí đầu vào và định giá đầu ra để kiếm lời. Đây là kiểu kinh doanh ăn chắc mặc bền, rủi ro ít và lợi nhuận cũng không nhiều.
Đối với người kinh doanh mua đi bán lại với “giá chốt trước” thì nên đặc biệt quan tâm đến rủi ro biến động giá chênh lệch. Dù sao, để phát triển bền vững, đây là loại hình kinh doanh được khuyến khích.
Nhưng đã có kinh nghiệm: tuy đã có hàng trong tay, người bán thấy giá tăng, hám lợi, xù không giao cho khách đã mua mà giao cho các hợp đồng cao hơn để kiếm thêm lợi nhuận; còn những người chưa mua được hàng, do giá tăng, họ “tẩu vi thượng sách”. Nhiều nhà xuất khẩu đổ thừa cho nông dân và những người cung ứng cấp thấp xù không giao hàng nên họ không có hàng để giao cho các hợp đồng đã ký với mức giá thấp.
Trong thực tế, do muốn kiếm thêm chút lời hoặc do nhu cầu thị trường, nhiều người thích đầu cơ với hợp đồng giá “chốt sau” hơn.
Do giá kỳ hạn luôn biến động, nên sự kết hợp giữa biến động giá kỳ hạn và biến động giá chênh lệch làm cho việc đánh giá rủi ro của giá “chốt sau” trở nên … rối như canh hẹ.
Lại một lần nữa, quan hệ rủi ro đối với người bán, người mua trong trường hợp “chốt sau” được mô hình hóa đơn giản như thế này:
Người muaNgười bán
Giá kỳ hạn tăngGiá chênh lệch tăngLỗ (rủi ro)Lời
Giá chênh lệch không đổiLỗ (rủi ro)Lời
Giá chênh lệch giảmKhông xác định (rủi ro)Không xác định (rủi ro)
Giá kỳ hạn không đổiGiá chênh lệch tăngLỗ (rủi ro)Lời
Giá chênh lệch không đổiTương tự trường hợp chốt trước (không rủi ro)Tương tự trường hợp chốt trước (không rủi ro)
Giá chênh lệch giảmLờiLỗ (rủi ro)
Giá kỳ hạn giảmGiá chênh lệch tăngKhông xách định (rủi ro)Không xách định (rủi ro)
Giá chênh lệch không đổiLờiLỗ (rủi ro)
Giá chênh lệch giảmLờiLỗ (rủi ro)
Trường hợp không xác định là trường hợp không biết chính xác lời hay lỗ. Muốn xác định được lời hay lỗ thì phải tính đến sự khác biệt trong biên độ dao động của giá kỳ hạn và giá chênh lệch.
Do không dự liệu được sự biến đổi của hai loại giá này nên đây có thể xem trường hợp không xác định là rủi ro đối với nhà kinh doanh.
Rõ ràng là khi gia tăng công cụ giá, rủi ro càng tăng và người sử dụng sẽ dễ dàng rối như gà mắc tóc.

Giải quyết rủi ro – câu chuyện về rắn Hydra

Trong thần thoại Hy Lạp có câu chuyện về rắn thần Hydra. Rắn Hydra có một đặc điểm đáng sợ là khi nó bị chặt một đầu thì nơi đó sẽ mọc ra hai cái đầu mới. Rủi ro cũng y như vậy. Nếu ta không nhận diện và xử lý đúng rủi ro thì việc ngăn chặn rủi ro có nguy cơ phát sinh ra nhiều rủi ro mới.
Trở lại với trường hợp thực tế về rủi ro giá tăng dẫn đến xù hàng xuất khẩu trong ngành cà phê năm vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT) yêu cầu Hiệp hội Cà phê Cacao Việt Nam (Vicofa) chỉ thị cho các thành viên của mình không nên ký hợp đồng kỳ hạn và khuyến cáo các nhà xuất khẩu không nên ký các hợp đồng xuất khẩu theo phương thức chốt giá sau (theo TBKTSG Online) trong niên vụ 2011/2012.
Trước hết, hợp đồng kỳ hạn nói chung là công cụ bảo hộ giá. Nếu chúng ta ký kết hợp đồng bán trước, giao sau (forward) trong phạm vi khả năng cung ứng của ta thì đây là một công cụ tốt. Rủi ro của công cụ này phát sinh khi ta mua bán vượt quá tầm kế hoạch cung ứng và không thể nào thực hiện được hợp đồng.
Không có hàng cung ứng là do lập kế hoạch cung ứng quá khả năng, không mua được hàng do giá tăng hoặc thiếu tài chính do thắt chặt tính dụng. Giá tăng có thể được giải quyết qua công cụ hợp đồng kỳ hạn (futures) để bảo hộ giá. Thiếu tài chính do tình hình kinh tế chung thì ta có thể thương lượng nhờ hổ trợ tài chính thay vì xù hàng.
Do đó, đứng trên gốc độ của quản trị rủi ro, việc khuyến cáo không nên ký kết hợp đồng kỳ hạn khi không có hàng để tránh rủi ro xù hàng thì có vẻ hợp lý nhưng thực tế là chúng ta đã chặt nhầm đầu rắn Hydra. Chúng ta không những không giải quyết được căn nguyên của rủi ro là ở khâu kế hoạch cung ứng mà còn chặn luôn cả kênh bảo hộ rủi ro.
Còn đối với trường hợp của phương thức chốt giá sau, tiến sĩ Bảo Trung và chuyên gia Nguyễn Quang Bình đã có bài viết rất sâu để phản biện vấn đề này.
Tiến sĩ Trung cho rằng phương thức chốt giá sau vẫn là một công cụ có thể quản lý được và phù hợp với thông lệ kinh doanh quốc tế. Vấn đề là trong thực tế do rủi ro về giá trừ lùi, rủi ro về thực hiện sai, hay rủi ro chốt giá không đúng thời điểm (rủi ro về giá kỳ hạn) làm cho nhiều doanh nghiệp thua lỗ. Đó là do lỗi của việc dụng phương thức này vào thực tế.
Ông Nguyễn Quang Bình ủng hộ phương thức chốt giá sau dựa vào kinh nghiệm kinh doanh. Trong thực tế, nhìn vào số lượng hợp đồng chốt trước hay chốt sau mà người kinh doanh có thể dự đoán được tâm lý thị trường. Nhiều hợp đồng chốt trước là khi thị trường thụ động, mọi người lo sợ rủi ro, tâm lý giá xuống; nhiều hợp đồng chốt sau là khi thị trường sôi nổi, mọi người đầu cơ vào giá, tâm lý giá lên. Ngân hàng cũng nhìn vào đó mà thường cấp tín dụng cho hợp đồng chốt sau hơn.
Do đó, “của César hãy trả cho César”, việc lựa chọn phương thức kinh doanh, hãy để doanh nghiệp tự quyết lấy.
Thực vậy, chúng ta không thể loại bỏ rủi ro về giá đơn giản như việc chém đầu rắn Hydra. Các bước trong quản trị rủi ro là trước hết phải nhận diện rủi ro, kế đến là đánh giá rủi ro và sau cùng là kiểm soát rủi ro. Vấn đề là khi kiểm soát, ngăn chặn rủi ro thì không được làm phát sinh rủi ro mới. Đó cũng là bí quyết mà Heracles tiêu diệt được rắn Hydra.
Tóm lại, đưa ra những giải pháp tình huống để giúp các doanh nghiệp tránh rủi ro, đó là cách cha mẹ dành cho con cái khi còn nhỏ. Để nông nghiệp và doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành, họ phải được nâng cao kiến thức về nhận diện, phòng chống rủi ro và tự mình chịu trách nhiệm. Bộ NN&PTNT và Vicofa nên tổ chức đào tạo hướng dẫn nông dân, doanh nghiệp phòng chống rủi ro; đưa ra những biện pháp kỹ thuật giám sát việc thực hiện quản trị rủi ro thay vì đưa ra những rào chắn, kinh doanh có điều kiện cho doanh nghiệp.
Nếu một hai doanh nghiệp xuất khẩu không tuân thủ nguyên tắc quản trị rủi ro dẫn đến thiệt hại, họ sẽ tự bị đào thải. Còn khi nhiều doanh nghiệp cùng gặp vấn đề thì đó trở thành câu chuyện về cơ chế, nhận thức. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục nhận thức sai về rủi ro, không tuân thủ nguyên tắc phòng ngừa hoặc đưa ra những quyết sách chung cho thị trường thì mãi sẽ không thoát ra khỏi tình trạng như gà mắc tóc như hiện nay