Hiển thị các bài đăng có nhãn Lượm Lặt đó đây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lượm Lặt đó đây. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016

Cây cầu đi bộ đầu tiên ở miền Tây



Cầu đi bộ Cần Thơ có vốn đầu tư gần 50 tỷ đồng, được khánh thành vào tối 28 Tết. Cầu bắc qua rạch Khai Luông, nối bến Ninh Kiều và cồn Cái Khế phục vụ nhu cầu tản bộ, tham quan du lịch cho người dân trong và ngoài thành phố.

Cầu đi bộ Cần Thơ được xem là cây cầu đi bộ đầu tiên ở miền Tây. Công trình là điểm nhấn quang cảnh giữa thành phố, phục vụ nhu cầu đi bộ của người dân địa phương, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, đồng thời sẽ là nơi tổ chức các sự kiện văn hóa miền sông nước của thành phố.

Sau khi cầu khánh thành, mỗi ngày có hàng trăm lượt người đến tham quan, chụp ảnh lưu niệm… Đặc biệt, hiện nay vào mỗi buổi chiều rất đông người tản bộ trên cầu để thưởng thức trọn vẹn luồng gió mát rượi từ sông Hậu thổi vào…

Sau ngày 14/02 – ngày tình nhân trên cầu đi bộ đã xuất hiện nhiều ổ khóa tình yêu khóa chặt trên lang can cầu. Tuy nhiên, vừa qua để giữ vẻ mỹ quan cho chiếc cầu, ngành chức năng TP Cần Thơ đã cho cắt hết các ổ khóa tình yêu này. Nhiều bạn trẻ cho rằng, những ổ khóa tình yêu trên cầu là một yếu tố nhiều người biết đến và muốn đến tham quan chiếc cầu...



Đường dẫn lên cầu đi bộ - bờ Bến Ninh Kiều





Vào buổi chiều có rất đông người lên cầu tản bộ, hóng gió...



Phần nhịp chính cầu có mái che... Và các ổ khóa tình yêu trên cầu không còn nữa.



Giữa nhịp chính là hai biểu tượng bông hoa bung nở



Đứng trên cầu có thể ngắm dòng sông Hậu mênh mông va chiếc cầu Cần Thơ





Hướng nhìn về bến Ninh Kiều có du thuyền, ghe tàu tấp nập



Rất đông người dân đến tham quan và chụp ảnh lưu niệm...





Những đường cong mềm mại trên cầu



Cầu đi bộ giữa sông nước mênh mông



Phía bờ Cồn Cái Khế là lối đi bộ nối liền cầu đi bộ đến công viên sông Hậu, tuy nhiên phần lang còn nhiều khoảng trống to nên rất nguy hiểm cho các em nhỏ như thế này

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

đối thoại thú vị giữa mẹ chồng châu Á và châu Âu




Dưới đây là cuộc đối thoại giữa hai người mẹ chồng điển hình của hai châu lục. Hãy đọc xem họ khác nhau như thế nào nhé.


Mẹ chồng châu Á: Con dâu tôi thật nhẫn tâm.


Mẹ chồng châu Âu: Sao vậy?


Mẹ chồng châu Á: Nó còn dám hỏi tôi có muốn đến sống ở viện dưỡng lão không?


Mẹ chồng châu Âu: Viện dưỡng lão cũng rất tốt ah, bây giờ tôi cũng đang sống ở đó.


Mẹ chồng châu Á: Đó là nơi mà những người già không nơi nương tựa mới đến ở. Tôi đã nuôi nấng con trai trưởng thành nên người như bây giờ, con dâu kết hôn với con trai tôi còn chưa chăm sóc cho tôi được ngày nào lại còn hỏi tôi muốn đi đến nhà dưỡng lão! Nếu tôi đi thì chẳng phải thành trò cười cho bạn bè và người thân sao?


Mẹ chồng châu Âu: Không đúng. Con dâu kết hôn với con trai bà là để cùng nhau chung sống với nó, vậy tại sao lại phải chăm sóc cho mẹ chồng? Nếu như con dâu cần chăm sóc mẹ chồng, vậy thì ai sẽ chăm sóc phụ thân của con dâu đây? Nhất là chúng ta giờ đã ở vào một độ tuổi nhất định, sống ở những căn hộ dưỡng lão là một điều rất thuận tiện. Làm sao mà bị người đời cười được? Nếu bà không muốn đi, có thể trả lời không! Thông cảm và hiểu lẫn nhau mới là điều quan trọng nhất.


Mẹ chồng châu Á: Con bé đã trở thành con dâu trong nhà vậy cũng chính là người nhà, tất nhiên cần phải chăm sóc cho tôi. Tôi đã đến độ tuổi này, nên cùng an hưởng tuổi già và sống vui vẻ cùng với con cháu. Sống trong nhà dưỡng lão, vừa cô đơn vừa trống vắng, chẳng phải quá đáng thương sao?


Mẹ chồng châu Âu: Con dâu kết hôn với con trai rồi sao lại có thể trở thành người của chúng ta? Người ta đã trưởng thành, lại cũng không phải do chúng ta dưỡng thành, cũng không hề tiêu tốn của chúng ta một đồng nào? Hơn nữa cũng đã vất vả sinh cháu cho chúng ta, vậy vì cớ gì lại bắt con dâu phục vụ? Huống hồ bà vẫn sống cùng với con trai? Điều đó không được, tôi mà sống cùng con trai hơn 2 tuần là sẽ không thoải mái, sẽ chịu không nổi.


Mẹ chồng châu Á: Sống cùng con mình vui vẻ biết bao sao bà lại nói là không thoải mái?


Mẹ chồng châu Âu: Con trai tôi 18 tuổi đã rời nhà sống tự lập. Nó về thăm nhà vài ngày tôi rất hoan nghênh. Nhưng nếu sống ở nhà một thời gian dài, đặc biệt đưa cả vợ và con đến. Cuộc sống của tôi sẽ bị ảnh hưởng nhiều.


Mẹ chồng châu Á: Tôi không hiểu, sống cùng con cái mình lẽ nào không thoải mái cho được? Chúng ta là bậc trưởng bối, những chuyện của chúng lẽ nào chúng ta không được tham gia?


Mẹ chồng châu Âu: Thứ nhất, con chúng ta đã 18 tuổi rồi, đã là một người trưởng thành, nên biết tự lập. Thứ hai, chúng cũng cần phải có sự riêng tư, tôi ở cùng với chúng chắc chắn không thoải mái.


Mẹ chồng châu Á: Phương tây các bà thật kỳ lạ, cái này cũng không được, cái kia cũng không được. Vậy lẽ nào cứ phải sống trong nhà dưỡng lão mới là “được”?


Mẹ chồng châu Âu: Tôi có cuộc sống của tôi, con trai tôi có cuộc sống riêng của nó. Nó đã kết hôn và tự có gia đình nhỏ của riêng mình. Tôi chắc chắn không thể làm “người thứ ba” xen vào cuộc sống của chúng.


Mẹ chồng châu Á: Những điều bà nói nghe có vẻ tốt! Nhưng bà nuôi nấng nó lên thành người. Nó kết hôn rồi, chúng cũng nên có hành động nào đó để báo đáp công sinh thành?


Mẹ chồng châu Âu: Báo đáp? Báo đáp như thế nào?


Mẹ chồng châu Á: Tất nhiên là đón chúng ta về sống cùng với chúng, khiến chúng ta có thể yên tâm an hưởng những năm cuối đời. Nhưng dù sao, bà cũng dọn vào nhà dưỡng lão sống rồi, nên bà không nhận được phúc phận này. Thế con dâu bà có đưa tiền cho bà không?


Mẹ chồng châu Âu: Cho tôi tiền? Tại sao?


Mẹ chồng châu Á: Đó là biểu hiện của tấm lòng hiếu thảo!


Mẹ chồng châu Âu: Không, không, không! Tôi không cần con dâu cung cấp tiền cho tôi. Tiền của chúng nên để dành để nuôi dưỡng các cháu. Số tiền đó có thể giúp con trai cùng trả các khoản tiền vay. Nếu có nhiều tiền hơn thì để chúng cùng đi du lịch nghỉ dưỡng, chúng có thể tự lo cho mình là tôi rất hạnh phúc rồi. Tôi không cần chúng phải phụng dưỡng tiền cho tôi.


Mẹ chồng châu Á: Tôi nhận thấy con dâu bà thật thoải mái và dễ chịu, không cần phải chịu bất cứ trách nhiệm nào.


Mẹ chồng châu Âu: Trách nhiệm? Con dâu không cần phải có bất kỳ trách nhiệm nào với tôi.


Mẹ chồng châu Á: Không có trách nhiệm? Nếu bà không có tiền, bà sẽ không cần con dâu lo cho bà?


Mẹ chồng châu Âu: Tôi có tiền lương hưu, hơn nữa các khoản nợ tôi đã sớm trả xong. Tôi có đủ tiền để dưỡng già.


Mẹ chồng châu Á: Nếu bà mắc bệnh, lẽ nào không cần con dâu giúp đỡ?


Mẹ chồng châu Âu: Nếu tôi bị bệnh, viện dưỡng lão sẽ tự khắc đưa tôi đến bệnh viện.


Mẹ chồng châu Á: Nếu bà phải nhập viện, nếu cần người trông nom, lẽ nào không cần con dâu bà?


Mẹ chồng châu Âu: Người phương tây chúng tôi không có văn hoá con dâu phải trông nom mẹ chồng. Con dâu vốn đã có công việc của riêng mình, lại còn thêm rất nhiều công việc nhà, chỉ cần con dâu đến thăm tôi, thế là tôi đã thấy vui rồi. Tôi sinh con trai, là bởi vì tôi yêu nó, tôi chưa bao giờ hy vọng rằng con trai sẽ lấy một người mà người đó sẽ phải chăm lo cho tôi trong những năm cuối đời. Chúng đang ở giai đoạn phải dốc sức làm việc vất vả nhất trong cuộc đời, có quá nhiều việc để làm như: phải nỗ lực làm việc chăm chỉ, cần phải “chăm sóc” cho gia đình nhỏ hạnh phúc của mình, cần phải tận hưởng cuộc sống.


Mẹ chồng châu Á: Tôi cũng yêu con trai tôi, và tôi cũng biết rằng nó đang phải ở giai đoạn khó khăn làm việc chăm chỉ. Vì vậy, tôi mới muốn sống với chúng, để giúp chúng nuôi dạy con cái nên người.


Mẹ chồng châu Âu: Bà còn chăm cháu! Thật không thể tin nổi!


Mẹ chồng châu Á: Tại sao?


Mẹ chồng châu Âu: Chăm sóc con cái là trách nhiệm của cha mẹ, điều đó có liên quan gì tới bà? Con dâu bà mới là mẹ chúng, con trai và con dâu bà mới có quyền quyết định mọi việc hay tương lai cho cháu.


Mẹ chồng châu Á: Con dâu làm sao có thể hiểu được nuôi dạy con cái như thế nào! Con trai tôi đều do tôi nuôi lớn, do đó việc chăm sóc các cháu tôi chắc chắn phải biết rõ hơn chúng chứ.


Mẹ chồng châu Âu: Bà nói vậy không đúng rồi, hồi xưa khi bà nuôi dưỡng con trai, nếu mẹ chồng của bà xuất hiện và yêu cầu bà phải thế này phải thế kia thì bà có thoải mái không? Cháu là do chúng sinh ra, nên tôn trọng và không nên can thiệp vào cách nuôi dạy của chúng.


Mẹ chồng châu Á: Tôi hiểu rồi – Bà sớm đã đuổi chúng ra khỏi nhà, đến cháu bà cũng không muốn chăm sóc. Bà không có tình người, bà quá ích kỷ, thảo nào bà chỉ có thể sống ở viện dưỡng lão.


Mẹ chồng châu Âu: Tôi chắc là bị bà làm cho hồ đồ rồi. Bà nói bà yêu con trai mình nhưng lại làm phiền cuộc sống của chúng ở khắp mọi nơi. Bà nói rằng bà muốn giúp chúng giảm bớt những áp lực của cuộc sống, nhưng lại muốn chúng phải phụng dưỡng bà. Tất cả điều này có phải chỉ vì chống lại tuổi già?


Bà mẹ châu Âu thở dài, nhìn người mẹ châu Á đang làm mình thành lú lẫn và tiếp tục nói :


1. Con trai chúng ta chỉ là một người đàn ông bình thường, không phải như bà nghĩ rằng nó tuyệt vời nhất. Nó lấy vợ không phải là cô gái đó muốn “trèo” vào gia đình bà, do đó chúng ta cần quý trọng con dâu.


2. Con trai chúng ta lười biếng như thế nào, người làm mẹ như chúng ta lẽ nào không biết? Do vậy đừng lấy lý do con trai của chúng ta bận rộn mà cần con dâu phải làm hết việc nhà. Nó không phải đang bận trò chuyện trên facebook thì là chơi trò điện tử. Chắc hẳn trong tâm bà đều rõ.


3. Đừng để con dâu phải giống như bà, chăm sóc con trai mình. Cậu ấy là con trai bà, là chồng của con dâu bà. Con dâu chỉ có thể coi con trai bà là chồng chứ không thể coi chồng là con để chăm sóc được.


4. Đừng nên nói điều không tốt về con dâu trước mặt con trai bà, nếu bà làm vậy chỉ khiến chúng không thể ngừng các cuộc tranh cãi dường như vô tận. Khi chúng không thể chịu đựng được nữa, vậy kết cục của những cuộc cãi vã này là gì? Chính là ly hôn, nếu như đó là vì bà mà chúng ly hôn, vậy thì chẳng phải lỗi của những bậc làm cha làm mẹ như chúng ta rất lớn ư?


5. Những ngày tháng con dâu sinh và chăm sóc đứa bé, bà có thể không giúp đỡ, cũng có thể nói bà không có nghĩa vụ phải làm vậy. Nhưng hãy nhớ, khi bà cần sự chăm sóc, xin bà cũng đừng nhớ tới con dâu, bởi vì con dâu bà cũng không có nghĩa vụ phải như vậy.


6. Bà cũng đừng nghĩ rằng khi con dâu bà bắt con trai bà phải làm một chút việc nhà, thì là làm tội cậu ấy. Gia đình vốn gồm có 2 thành viên, và cậu ấy có nghĩa vụ phải chia sẻ, gánh vác cùng vợ.


7. Đừng bao giờ kể rằng nhà ai đó có con dâu tốt thế nào, có tốt đến mấy cũng là nhà người ta. Bà cũng không nghĩ, nếu bà muốn có một người con dâu tốt thì trước tiên cần phải làm một người mẹ chồng tốt?


8. Đừng nghĩ rằng bà đối xử tốt với con trai bà, thì con dâu sẽ phải nợ bà. Nếu bà muốn thu hồi nợ, thì cũng phải tìm đúng chủ nợ. Nếu bà hy vọng con dâu nên hiếu thuận với bà, quan tâm đến bà, thì cũng mong bà đối xử tốt với con dâu, dùng tâm đổi tâm. Chứ không phải là mình có nhu cầu, thì đòi hỏi người khác phải thoả mãn yêu cầu của mình.


9. Cũng đừng suốt ngày nghĩ tới nhà bố mẹ đẻ của con dâu có bao nhiêu tiền, có bao nhiêu nhà đất, có nhiều đến đâu cũng không có liên quan gì tới mình, có quay vòng đến đâu cũng không đến lượt mình.


10. Khi con dâu về nhà mẹ đẻ, mua đồ cho bố mẹ mình, thì bà hãy nhớ đừng nên ghen tị. Bởi vì họ đã phải chi trả rất nhiều cho con dâu bà.


Người phụ nữ khi đã lập gia đình, họ sẽ trở thành khách đối với gia đình mình và thành người ngoài đối với gia đình chồng. Cô ấy sẽ mất đi tất cả, vậy rốt cuộc điều cô ấy nhận được là một người cấp phép cho mình?


Nếu như bà cũng không yêu con dâu, thương nó, bảo vệ nó, vậy thì có phải nó sẽ trở thành một đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa?


Hơn nữa nếu người chồng thường xuyên nói với vợ mình rằng: hãy đối xử với mẹ anh thật tốt, mẹ đã nuôi anh khôn lớn không dễ dàng chút nào. Nhưng lại không hề có một người chồng nào nói: mẹ ơi, mẹ đối xử với vợ con tốt một chút, vợ con đã phải rời xa bố mẹ cô ấy để đến sống ở nhà chúng ta, đó không phải là một điều dễ dàng chút nào. Do đó chúng ta phải đối xử tốt với cô ấy???


Đến đây thì bà mẹ châu Á không trả lời mà chỉ trầm ngâm suy nghĩ. Nếu là bạn, bạn sẽ có cách nghĩ như thế nào?


Chắc hẳn câu truyện trên đã giải khai rất nhiều khúc mắc trong quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu hiện nay. Hy vọng rằng sau khi đọc được những thông điệp này, sẽ càng có nhiều những gia đình vốn có quan hệ mẹ chồng – nàng dâu phức tạp trở nên đầm ấm và hạnh phúc hơn nữa.






My My / EpochTimes

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Người Mỹ đã thay đổi nước Nhật ra sao? - Minh Đức


Image result for made in japan
Phép lạ Nhật Bản là sự tỉnh táo, sáng suốt nhìn vào tình thế. Người Nhật hiểu họ thua Mỹ là vì kém về kỹ thuật trong nhiều mặt, kém về tiềm năng kinh tế. Vì thế họ đưa ra khẩu hiệu “đuổi kịp người Tây Phương, vượt qua người Tây Phương”. Họ đã từng canh tân nước Nhật vì thấy khoa học kỹ thuật và kinh tế là nền tảng của sức mạnh quốc gia. Họ tìm cách xây dựng nền tảng của sức mạnh quốc gia trong khi hoàn cảnh bại trận giới hạn họ trong một số mặt. Họ đã tự nhủ với nhau rằng “Nếu chúng ta không thể làm người thắng giỏi thì chúng ta sẽ làm người thua giỏi”. Người thua giỏi là người biết nuôi sức mình để chờ cơ hội thuận tiện mà đứng thẳng lên.
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản chấp nhận đầu hàng vô điều kiện trước sức tấn công của quân đội Đồng Minh. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Nhật Bản ký hiệp ước đầu hàng với các nhà lãnh đạo quân đội Đồng Minh trên chiến hạm USS Missouri của Mỹ. Năm ngày sau khi Nhật ký hiệp ước đầu hàng, ngày 7 tháng 9 năm 1945, thống tướng Mỹ Douglas McArthur, người chỉ huy các lực lượng Đồng Minh tại Thái Bình Dương, thiết lập văn phòng làm việc tại Tokyo, mở đầu cho gian đoạn Mỹ chiếm đóng nước Nhật kéo dài trong sáu năm, tám tháng. Trong giai đoạn này, ông McArthur đã đề ra nhiều biện pháp thay đổi nước Nhật về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội để biến nước Nhật từ một quốc gia hiếu chiến thành một nước đi theo con đường hòa bình, lo phát triển kinh tế…
.

Tình cảnh nước Nhật sau khi bại trận
Thành phố Hiroshima bị tàn phá bởi bom nguyên tử
Sau khi bị bại trận và phải đầu hàng vô điều kiện vào năm 1945, nước Nhật có nhiều thành phố bị tàn phá vì chiến tranh. Ngoài hai thành phố là Hisosima và Nagasaki bị san phẳng vì bom nguyên tử với hàng triệu người chết và bị thương, nhiều thành phố khác cũng bị tàn phá vì phi cơ Mỹ ném bom vào các khu trung tâm công nghiệp để triệt hạ sức sản xuất cho chiến tranh của Nhật.


Khi người lính Mỹ đặt chân lên nước Nhật họ đã sững sờ vì mức độ nước Nhật bị tàn phá trên sự tưởng tượng của họ. Tại nhiều nơi, chỉ còn lại sườn sắt thép siêu vẹo, cột, đà gỗ bị cháy. Hệ thống cấp nước đến các nhà bị phá hủy nên ở một số nơi, người dân phải lấy nước ở vòi nước công cộng để sinh sống. Ở một số khu vực, nhà cửa bị hư hại không còn cầu tiêu nên người dân phải đào lỗ cạnh nhà để tiêu tiểu.
Trung tâm thương mại tại khu phố Meguro bị bom tàn phá nên năm 1948, các cửa hàng được dựng lên bằng tre lá . Đến thập niên 1970 khu này được xây dựng lại với các building kiên cố
Hàng triệu người lính giải ngũ cũng một lúc không có công ăn việc làm. Nhiều người dân thất nghiệp vì các nhà máy bị tàn phá. Ngoài đường phố nhiều cựu chiến binh và thương binh phải xin ăn.
Nạn thiếu thực phẩm đã xảy ra. Có trường hợp tại vùng quê có người nhảy lên tàu hỏa để đi lên thành phố xem có thể kiếm gì ăn được. Nhiều người phải tìm rau dại, đào củ ăn thay cơm. Mỹ đã phải cấp tốc chở gạo cứu đói đến cho Nhật. Nhiều trẻ em lớn lên vào thời kỳ này vì thiếu ăn nên đã bị còi cọc, không lớn được.
Sau 1945, vì thiếu lương thực nên thực phẩm được phân phối theo tiêu chuẩn . Người dân xếp hàng chờ mua thực phẩm

Nạn lạm phát lên cao. Nạn chợ đen cũng lan tràn. Hàng hóa rất khan hiếm vì nhà máy bị phá hủy hết. Người dân Nhật lúc đó rất nghèo, chỉ có ít tiền nhưng cũng chẳng có gì để mà mua.



Thủ đô Tokyo điêu tàn vì bom đạn

Lính Mỹ đi tuần trên một chiếc cầu tại Tokyo với cảnh tàn phá xung quanh
Vì Nhật bị thua phải chấp nhận đầu hàng vô điều kiện nên phải chấp nhận các biện pháp mà tướng McArthur đưa ra nhưng cũng có những người Nhật chấp nhận hợp tác với người Mỹ trong các cải cách về nước Nhật vì họ cũng đồng ý là các thay đổi này có lợi cho nước Nhật. Người Nhật đã gọi ông là vị Shogun Mỹ. Shogun nghĩa là Sứ Quân, là người đứng đầu một lãnh địa, vào thời Nhật còn bị nạn sứ quân chia cắt.
Việc làm đầu tiên của ông là ra lệnh chở lương thực và các vật dụng cần thiết cho đời sống đến Nhật để cứu đói và tránh các bất ổn xã hội do nạn đói và thiếu thốn gây ra. Ông ra lệnh thực hiện chương trình cho học sinh ăn trưa tại các trường học Nhật.
Quân đội Mỹ tiến vào nước Nhật, giải thoát các tù binh Mỹ và thi hành các điều kiện đã ký kết trong văn bản đầu hàng. Toàn bộ quân đội Nhật bị giải tán. Các binh sĩ được cho về quê sống. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Nhật, nước này bị quân đội ngoại bang chiếm đóng.
Lính Mỹ được lệnh phải tôn trọng phong tục tập quán của nước Nhật và giúp đỡ người dân, chẳng hạn, khi vào nhà phải cởi giày để ở bên ngoài, đứng điều khiển giao thông trước các trạm xe lửa có xe cộ đông đúc, giúp đỡ trẻ em thiếu ăn. Người Nhật cảm động trước cách cư xử này của lính Mỹ.

Một bé gái Nhật cõng em, chụp tại Hiroshima năm 1945
Điều đầu tiên chính phủ Nhật chuẩn bị khi lính Mỹ tiến vào nước Nhật là mở ra hàng trăm nhà chứa điếm và các trạm giải trí để lính Mỹ đừng xâm phạm đến phụ nữ Nhật. Một số phụ nữ Nhật lo sợ bị lính Mỹ hãm hiếp nên đã cắt tóc ngăn, ăn mặc giả như là đàn ông khi đi ra ngoài. Có người kể là có phụ nữ đem theo những viên thuốc độc cianide để phòng khi bị cưỡng hiếp thì họ sẽ uống thuốc độc tự tử để khỏi bị mang nhục.


Lúc đầu, lính Mỹ được ra lệnh khi đi ra khỏi doanh trại phải trang bị đầy đủ vũ khí giống như khi ra trận, không được phép thân mật hay kết bè bạn với người Nhật. Nhiều người Nhật phàn nàn về chính sách này và sau đó người Mỹ thấy người Nhật không có vẻ gì là thù hận người Mỹ và không có ý định hại người Mỹ nên sáu tháng sau, lệnh trên được bãi bỏ. Lính Mỹ có thể đi ra ngoài phố mà không cần phải đem vũ khí theo.

Lính Mỹ chơi với trẻ em Nhật
Khi tướng McArthur ra trước quốc hội Mỹ để trình bày cho quốc hội biết kế hoạch ông sẽ thực hiện tại Nhật, ông nói là sẽ biến nước Nhật thành một nước dân chủ và theo kinh tế tư bản.
Chính sách của Mỹ tại Nhật sau chiến tranh là tìm cách loại bỏ các thành phần hiếu chiến đã chủ trương gây chiến tranh. Đồng thời với việc loại các thành phần hiếu chiến là sửa đổi kinh tế để các thành phần chủ chiến mất cơ sở về kinh tế. Về mặt xã hội, tinh thần thượng võ theo truyền thống của Nhật bị xóa bỏ bớt.
Thay đổi về chính trị
Sau chiến tranh, có 23 viên chức Nhật trong hàng ngũ lãnh đạo, một số ở trong quân đội, một số bên dân sự, bị đem ra tòa xử về tội ác chiến tranh. Trong số 23 người này, có bảy người bị xử tử. Thủ Tướng Nhật thời chiến tranh là Hideki Tojo cũng nằm trong số người bị xử tử.

Hideki Tojo (1884 – 1948)
Về phần Nhật Hoàng Hirohito, ông đứng ra nhận tất cả trách nhiệm về cuộc chiến và chấp nhận từ chức nếu Mỹ yêu cầu. Tướng McArthur đã không đòi hỏi Nhật Hoàng từ chức.


Có người lý luận là những tướng lãnh, những viên chức chính quyền bị xem là tội phạm chiến tranh và bị trừng phạt chẳng qua là họ nghe theo lệnh Nhật Hoàng. Thế mà đem trị tội những người thi hành lệnh mà lại không trừng phạt người ra lệnh, tức là Nhật Hoàng, thì việc trừng phạt những người kia chẳng còn có giá trị. Nhưng tướng McArthur hành động theo thực tiễn. Ông thấy Nhật Hoàng là người được toàn dân Nhật tôn trọng nên ông muốn Nhật Hoàng được tại vị để làm biểu tượng đoàn kết dân Nhật và đem lại ổn định về chính trị. Nếu đem hạ bệ Nhật Hoàng thì khi người lãnh đạo tối cao không còn, mọi người sẽ quay ra tranh giành quyền lực, chống đối nhau, gây mất ổn định cho đất nước.

Tướng Hideki Tojo (Đông Điều) tự tử bằng cách dùng súng lục bắn vào tim để khỏi bị cái nhục khi bị đem ra tòa xử. Viên đạn không trúng tim, ông được cứu sống và sau này bị đem ra tòa xử và bị treo cổ

Nhật Hoàng đã đi khắp nơi trên đất nước Nhật đến nhiều gia đình để bắt tay người dân, thăm hỏi về đời sống. Việc làm này làm cho người dân rất xúc động và lên tinh thần, cố gắng làm việc để vượt qua các khó khăn.

Tướng McArthur và Nhật Hoàng Hirohito
Hiến pháp của Nhật bị thay đổi để trở thành một hiến pháp của một nước theo đường lối hòa bình. Hiến pháp Nhật trước đó được soạn vào năm 1889 vào thời Minh Trị Thiên Hoàng theo mẫu của hiến pháp Anh để biến chế độ nước Nhật từ chế độ quân chủ thành chế độ quân chủ lập hiến. Trong chế độ quân chủ lập hiến, người dân được quyền bầu đại diện vào quốc hội, đại biểu của dân tham gia việc soạn luật trong khi vua vẫn giữ vai trò lãnh đạo tối cao.Với tư cách là người thắng trận, người Mỹ đã sửa đổi một số điều trong hiến pháp và đưa sang cho quốc hội Nhật biểu quyết chấp nhận. Việc soạn các sửa đổi trong hiến pháp được làm trong thời gian rất ngắn, chỉ có sáu ngày.
Trong hiến pháp mới, Nhật Hoàng vẫn giữ vai trò lãnh đạo tối cao, nhưng chỉ có tính cách biểu tượng cho quốc gia và sự đoàn kết dân tộc mà không có quyền lực trong việc quyết định các đường lối, chính sách của quốc gia. Đường lối và chính sách quốc gia do các chính trị gia được dân bầu lên theo thể thức dân chủ đảm nhiệm.
Hiến pháp mới qui định nước Nhật sẽ không gây chiến với các nước khác để chiếm đất đai. Nước Nhật sẽ không lập một quân đội đông đảo mà chỉ có lực lượng phòng vệ quốc gia.
Trong hiến pháp mới, các quyền tự do căn bản của người dân như quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí, tự do tôn giáo được tôn trọng và phụ nữ cũng được quyền đi bầu.
Hiến pháp mới của Nhật được gọi là Hiến Pháp Hòa Bình, mở đầu với câu:
« Chúng tôi, nhân dân nước Nhật, mong muốn vĩnh viễn có hòa bình… Chúng tôi mong muốn luôn luôn có được một chỗ đứng vinh dựng trong cộng đồng thế giới trong việc duy trì hòa bình thế giới, trong việc hủy bỏ sự độc đoán và sự nô lệ hóa, sự áp bức và lòng bất khoan dung. »
Điều 9 trong hiến pháp Nhật ngăn cấm mọi hoạt động quân sự . Điều này viết : « Nhân dân Nhật không sử dụng chiến tranh để áp đặt lên nước khác uy quyền của mình và không dùng vũ lực trong các vụ tranh chấp với các nước khác ».
Hiến pháp này cũng qui định Nhật sẽ không tuyên bố gây chiến với các nước khác và không xây dựng một lực lượng bộ binh và hải quân lớn. Vì hạn chế có một quân đội lớn nên Nhật tiêu ít vào quốc phòng hơn các nước khác. Mỗi năm Nhật chỉ chi vào quốc phòng khoảng 1% ngân sách quốc gia. Tỉ lệ trung bình của các nước khác là từ 2% đến 4%.



Một số người Nhật muốn Nhật có quân đội mạnh hơn nhưng đa số người Nhật muốn giữ tình trạng như vậy. Cũng có lúc Mỹ muốn Nhật chi vào quốc phòng nhiều hơn vì nếu Nhật có một lực lượng quân sự lớn hơn thì Mỹ sẽ có thể giảm bớt chi phí về lực lượng quân sự của mình tại Á Châu trong việc ngăn ngừa sự bành trướng của khối Cộng Sản nhưng người Nhật cũng vẫn không gia tăng ngân sách quân sự . Họ muốn dồn ngân sách vào việc phát triển kinh tế.
Hiệp Ước Hòa Bình ký tại San Francisco năm 1951 bởi 48 nước, trong đó có Mỹ, Liên Xô, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Nhật qui định Nhật là một nước có chủ quyền về các chính sách đối nội và đối ngoại của quốc gia. Năm 1956, Nhật trở thành hội viên của Liên Hiệp Quốc. Năm 1965, Nhật ký hiệp ước bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Đại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn), nước trước đây là thuộc địa của Nhật.
Thay đổi văn hóa xã hội
Nhiều điều thay đổi trong xã hội Nhật đã được thực hiện trong giai đoạn này. Những phong tục, tập quán được cho là đề cao tinh thần ham chuộng sử dụng vũ lực và tinh thần quốc gia cực đoan bị ngăn cấm.
Tuồng Kabuki, loại tuồng cổ của Nhật, bị cấm. Tuồng Kabuki đã có từ lâu đời nhưng được đề cao và phổ biến mạnh mẽ trong thập niên 1930 là thời giới quân phiệt Nhật nắm quyền và thời tinh thần dân tộc được đề cao mạnh mẽ. Nhưng đến năm 1947, tức là hai năm sau, thì lệnh cấm bị bãi bỏ và ngày nay, tuồng Kabuki vẫn còn tồn tại.

Một cảnh trong tuồng Kabuki
Các môn võ bị cấm dạy trong đó có cả môn như Kiếm Đạo. Sau này, khi Nhật được trả lại chủ quyền vào năm 1952, chính quyền Nhật đã bãi bỏ luật cấm dạy võ. Các cuộc tranh tài về võ và đánh kiếm được phục hồi lại. Nhưng sau này các môn võ nghệ được xem như là thể thao chứ không phải để đào tạo, huấn luyện võ sĩ để theo sự nghiệp chiến tranh như thời xưa.
Trong trường học, giáo viên dạy học sinh về tinh thần dân chủ thay vì dạy học sinh phải tôn thờ Nhật Hoàng. Những đoạn ca tụng tinh thần thượng võ của giới Samurai trong sách giáo khoa bị bãi bỏ. Người dân Nhật phải đem nộp hết các kiếm, trong đó có các thanh kiếm cổ có từ hàng trăm năm. Ước lượng có đến hàng triệu thanh kiếm phải đem nộp cho nhà nước.



Một số thanh kiếm Nhật được trưng bày trong viện bảo tàng


Thần Đạo không còn được xem là quốc giáo mặc dù không bị cấm. Nhật Hoàng tuy còn tại vị nhưng không được xem là một vị thần ở dưới trần thế như xưa. Việc bãi bỏ Thần Đạo là quốc giáo và để cho tự do tôn giáo đã đưa đến hiện tượng có một số người đứng ra đi giảng đạo, qui tụ tín đồ và thành lập tôn giáo, đạo giáo mới.

Cổng kiểu này là biểu tượng của Thần Đạo

Đền thờ Thần Đạo ở thành phố Kyoto

Thay đổi về kinh tế
Trước khi Đệ Nhị Thế Chiến nổ ra vào năm 1939, Nhật đã là một nước công nghiệp hóa với hệ thống kinh tế, chính trị có những nét giống như các nước tư bản Tây Phương. Nhật có những công ty lớn gọi là Zaibatsu, do tư nhân làm chủ, và kinh doanh trong nhiều ngành. Zaibatsu tiếng Nhật có nghĩa là tập đoàn tài chính. Các Zaibatsu hoạt động trong ngành khai thác quặng mỏ, luyện thép, chế tạo máy móc, chế tạo vũ khí, buôn bán với các nước. Một số các Zaibatsu này là cơ sở kinh tế của tầng lớp chủ chiến tại Nhật.

Xe hơi đầu tiên của hãng Toyota, kiểu AA bốn chỗ ngồi, 1936
Chế độ chính trị Nhật cũng phát triển theo qui luật hạ tầng kiến trúc chi phối thượng từng kiến trúc với các công ty lớn có liên hệ với các đảng chính trị và các đảng này tranh đấu cho quyền lợi của các công ty trong quốc hội. Có sự liên hệ giữa các Zaibatsu và các đảng chính trị và giới quân nhân chủ trương dùng chiến tranh bành trướng để chiếm các vùng có nhiều quặng mỏ, nhiêu liệu. Số công ty lớn đáng được gọi là Zaibatsu có đến hàng chục. Trong đó bốn Zaibatsu lớn nhất là Mitsubishi, Sumitomo, Misui và Yasuda. Các công ty này đã hiện diện hàng chục năm, từ khi Minh Trị Thiên Hoàng canh tân nước Nhật vào thập niên 1860. Hãng Mitsubishi cũng chế tạo khí giới, bom đạn để phục vụ cho chiến tranh. Chiếc chiến đấu cơ nổi tiếng của Nhật là Zero được chế tạo bởi hãng Mitsubishi.

Chiến đấu cơ Zero do hãng Mitsubishi chế tạo


Sau 1945, Mỹ giải tán mười sáu Zaibasu, trong số đó có bốn công ty lớn nhất là Mitsubishi, Sumitomo, Misui và Yasuda. Hai mươi sáu Zaibatsu được tái cấu trúc lại để trở thành hàng trăm công ty nhỏ. Mục đích của việc tái cấu trúc là để xóa bỏ ảnh hưởng của những thành phần chủ chiến trong xã hội Nhật, từ lãnh vực chính trị cho đến kinh tế, văn hóa chứ không chỉ giới hạn trong việc đem xét xử những người lãnh đạo chiến tranh trong quân đội và chính phủ mà thôi.


Hàng không mẫu hạm hạng nhẹ Ryūjō được hãng Mitshubishi đóng từ 1929 đến 1931. Bị Mỹ đánh chìm tại Thái Bình Dương năm 1942
Đồng thời việc tổ chức lại một số tập đoàn tài chánh lớn là việc ban hành Luật Tản Quyền và Ủy Ban Kinh Doanh Công Bằng. Luật này nhằm mục đích giảm bớt việc tập trung nguồn lợi kinh tế vào trong tay một thiểu số người.
Kinh tế Nhật sau đó, với chính phủ có chủ quyền, có đặc tính là chính phủ can thiệp và chi phối khá nhiều vào hoạt động kinh tế chứ không tự do như nền kinh tế Mỹ. Một số thí dụ trong việc chính phủ can thiệp vào kinh tế như chính phủ hạn chế số hãng được mở ra trong một số ngành công nghiệp quan trọng. Việc hạn chế số hãng được mở ra nhằm mục đích vừa duy trì sự cạnh tranh giữa các hãng với nhau, vừa giữ cho số vốn được tập trung trong một số hãng mạnh, có khả năng cạnh tranh với các công ty mạnh trên thế giới chứ không tản mát vốn vào các công ty nhỏ không đủ sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế.

Một thí dụ khác như chính phủ giúp đỡ cho một số công ty quan trọng khi các công ty này gặp khó khăn, tránh cho các công ty bị vỡ nợ, phải đóng cửa quá sớm, tạo thêm điều kiện cho các công ty lướt qua các khó khăn khi kinh tế thế giới không thuận lợi. Các biện pháp can thiệp của chính phủ có những ưu điểm cũng như khuyết điểm cho nền kinh tế nói chung.
Nói chung Mỹ không tìm cách làm cho kinh tế Nhật suy yếu đi khi giải tán các công ty lớn mà chỉ tìm cách xóa bỏ ảnh hưởng của các thành phần chủ chiến. Mỹ muốn Nhật có một nền kinh tế thịnh vượng phát triển trong khung cảnh hòa bình. Nền kinh tế thịnh vượng đem lại công ăn việc làm cho người dân sẽ giảm bớt số người nghèo khổ bất mãn, thấy cuộc đời mình bị bế tắc, không có tương lai sẽ gia nhập các phong trào chính trị cực đoan, chủ trương dùng bạo lực để giải quyết các vấn đề xã hội.
Người Mỹ đã thay đổi được gì?
Những việc làm của tướng McArthur như thay đổi hiến pháp, thay đổi kinh tế, văn hóa sau đó có điều được bỏ đi, có điều chỉ áp dụng ở một mức độ nào đó hoặc chỉ có ảnh hưởng đến văn hóa, xã hội Nhật đến một mức nào đó.

Điều đã thay đổi nước Nhật là phe quân nhân mất ảnh hưởng và không còn can thiệp vào kinh tế, chính trị Nhật nữa . Quân đội Nhật chỉ giữ vai trò phòng vệ quốc gia chứ những người lãnh đạo quân đội không làm kinh tế, không can thiệp vào đường lối của chính phủ do dân bầu.
Nếu nhìn vào một số quốc gia ngày nay như Thái Lan, Indonesia, Phillipines, Pakistan… với quân đội và cơ quan an ninh có ảnh hưởng trong chính trị, kinh tế và có hậu quả xấu cho quốc gia thì việc triệt tiêu được ảnh hưởng của giới quân nhân Nhật sau Thế Chiến Hai là sự thành công. Sự thành công này có lợi cho Mỹ là Nhật sẽ không dùng quân sự mà chống Mỹ, nhưng cũng có lợi cho Nhật là các thành phần kinh tế, xã hội khác trong nước Nhật có cơ hội được hoạt động và phát triển mà không bị giới quân nhân lấn át.
Tại Thái Lan, quân đội vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong chính trị. Thủ tướng Thái mặc dù được dân bầu lên nhưng có thể bị lật đổ khi quân đội làm đảo chánh. Như vậy, khi thủ tướng Thái có những chính sách làm thiệt hại đến quyền lợi của quân đội thì sẽ bị quân đội ngăn cản. Nếu thủ tướng cứ tiếp tục chính sách đó thì sẽ bị quân đội làm đảo chánh lật đổ, rồi sau đó quân đội lại để cho bầu cử để có thủ tướng mới. Một số tướng lãnh Thái tham nhũng và có quyền lợi trong một số công ty. Việc quân đội dùng sức mạnh xen vào chính trị khiến cho một số hành vi phạm pháp, tham nhũng không bị trừng phạt và quân đội dùng sức mạnh để bảo vệ quyền lợi của một nhóm người chứ không theo sự công bằng xã hội.
Nước Nhật đã từng trải qua sự thay đổi vào giữa thế kỷ 19 khi những người lãnh đạo muốn canh tân nước Nhật. Việc kinh doanh trước đó bị coi thường. Tầng lớp thương nhân bị đứng hàng chót trong bốn tầng lớp Sĩ, Nông, Công, Thương. Tầng trên cùng là Sĩ tức là Võ Sĩ, Samurai, là người được trọng vọng, có quyền đeo kiếm đi ngoài đường.

Sĩ của Nhật khác với Sĩ của Trung Hoa và Việt Nam. Sĩ của Trung Hoa và Việt Nam là Nho sĩ, là người xem trọng việc giáo dục dân, giải quyết vấn đề bằng hòa bình hơn là dùng vũ lực. Để chấn hưng thương mại, những người chủ trương canh tân đã viết sách thay đổi cách nhìn của dân Nhật về giới thương nhân. Tầng lớp võ sĩ cũng bị giảm bớt giá trị khi chính quyền không còn duy trì sự phân biệt các tầng lớp một cách chặt chẽ như xưa. Với sự thay đổi của người Mỹ, giới quân nhân bị mất ảnh hưởng rất nhiều, tinh thần võ sĩ đạo đề cao sự can đảm, không sợ chết không còn được trọng vọng, thay vào đó là một lớp doanh nhân, xem việc kiếm tiền là mục tiêu cần theo đuổi.



Võ sĩ, Samurai


Việc giảm đi tinh thần thượng võ, gia tăng tinh thần kinh doanh làm cho một số người Nhật bất mãn vì thấy văn hóa truyền thống của Nhật bị phai nhạt đi. Nhưng chính đa số dân Nhật cũng tán thành việc làm giảm bớt tinh thần thượng võ vì họ thấy sự tai hại ghê gớm của chiến tranh. Về những năm sau này, có trường hợp một người Nhật tự mổ bụng tự tử để tỏ ý phản đối văn hóa mới, không còn xem trọng các đức tính của Samurai nữa.

Xe Honda Civic 1973, kiểu xe hơi đầu tiên của hãng Honda khi hãng này bước qua lãnh vực sản xuất xe hơi

Những gì nước Nhật không thay đổi
Tuy Mỹ có thay đổi hiến pháp và luật pháp, cũng với ý định thay đổi cả văn hóa Nhật nhưng sau hàng chục năm, có những điều Nhật vẫn không thay đổi nhiều.
Xã hội Nhật vẫn có tính cách tôn ti trật tự, người dưới nghe lời người trên, chứ không giống như các nước Tây Phương mỗi người là cá nhân bình đẳng với nhau.
Vai trò phụ nữ Nhật trong các hoạt động kinh tế, xã hội vẫn khiêm nhường hơn so với vai trò phụ nữ Tây Phương. Trong hàng chục năm sau chiến tranh, gia đình Nhật vẫn còn là người chồng đi làm, vợ ở nhà chăm sóc gia đình, con cái trong khi cùng thời gian đó, tỉ lệ phụ nữ Tây Phương ra ngoài đi làm cao hơn.

Người Nhật vẫn giữ thói làm việc rất cẩn thận, chu đáo. Vào đầu thập niên 1980, khi hàng hóa Nhật với đồ điện tử, xe hơi, xe mô tô xuất cảng lan tràn trên thế giới, người Mỹ thấy hàng hóa Nhật tốt hơn, bền hơn nên tìm hiểu tại sao. Họ thắc mắc tại sao người Nhật học phương pháp kiểm soát phẩm chất trong công nghiệp từ Mỹ lại sản xuất ra hàng hóa có phẩm chất cao hơn hàng hóa Mỹ. Người Mỹ thấy là sở dĩ hàng hóa Nhật có phẩm chất tốt là vì người Nhật làm việc với thái độ cẩn thận, chu đáo, để ý đến từng chi tiết nhỏ.

Cửa tiệm Wako với tháp đồng hồ tại khu Ginza, Tokyo, 1950

Phép lạ Nhật Bản
Vào thời gian đầu tiên sau 1945, Nhật là một nước bị chiến tranh tàn phá nên kinh tế Nhật là kinh tế thắt lưng buộc bụng, đời sống kham khổ, phải làm việc nhiều. Đến thập niên 1960 người ta nói đến Phép Lạ Nhật Bản khi kinh tế Nhật hồi phục mau chóng và đi vào giai đoạn tăng trưởng với tốc độ nhanh. Vào thời gian này, tại Châu Âu, kinh tế Tây Đức cũng hồi phục và phát triển nhanh. Dư luận tại miền Nam lúc đó nói rằng Đức và Nhật là hai nước kẻ thù của Mỹ mà ngày nay trở thành bạn và có nền kinh tế phát triển thịnh vượng, nên có nhiều người hy vọng việc miền Nam sẽ có được sự giúp đỡ của Mỹ để phát triển kinh tế.

Tại Châu Âu, sự giúp đỡ của Mỹ được nhắc đến qua chương trình Marshall. Qua chương trình này, Mỹ đem tiền cho các nước Tây Âu vay để các nước này xây dựng lại hạ tầng cơ sở, hồi phục lại nền công nghiệp đã bị chiến tranh tàn phá trong Thế Chiến Hai. Tại Nhật, không có chuyện Mỹ đổ tiền vào một cách dồi dào như tại Tây Âu nhưng Mỹ cũng có góp phần làm cho kinh tế Nhật phát triển nhanh hơn trong việc dành các hợp đồng cung cấp quân trang, quân dụng cho quân đội Mỹ trong hai cuộc chiến tranh tại Đại Hàn, 1950 – 1953, và chiến tranh tại Việt Nam vào thập niên 1960.
Sự phục hồi kinh tế của hai nước Tây Đức và Nhật cũng là do chính phủ các nước này biết quản lý kinh tế một cách khôn ngoan và người dân các nước này hăng hái làm việc, nhưng đối với dân miền Nam lúc đó thì trường hợp hai nước này cho thấy ít ra là hai nước này có thể trở thành thịnh vượng khi nằm trong khu vực ảnh hưởng của Mỹ, dù là trước đó đã là kẻ thù của Mỹ.

Xe Toyota Corona 1968, xuất hiện tại miền Nam, nhập cảng từ Nhật



Xe Mazda 1500, 1969, cũng thấy xuất hiện trên đường phố miền Nam cùng thời với chiếc Toyota Corona. Được đặt tên Mazda 1500 vì xe này dùng động cơ 1500 phân khối

Phép lạ Nhật Bản là làm việc nhiều và chịu khó,Vào thập niên 1950, 1960 dân Nhật sống đời sống cần kiệm, kham khổ. Một ký giả Tây phương mô tả bữa cơm của một gia đình công nhân Nhật thường không có thịt. Trên mâm chỉ có mấy miếng đậu phụ. Cả nhà ăn đậu phụ chấm tương. Ăn xong rồi thì chan canh rau cũng nấu với đậu phụ. Ăn canh sau cùng cũng để rửa sạch bát để không còn dính một hạt cơm nào trong bát. Nhật là đảo quốc thì ăn tôm, cá nhiều hơn. Thịt bò tại Nhật rất đắt chỉ có nhà giàu mới có tiền ăn thịt bò. Vì Nhật ít đất nên không để đất trồng cỏ để nuôi bò, cho nên phải nhập cảng thịt bò. Người Nhật, người Đài Loan và người Đại Hàn ăn đậu phụ rất nhiều so với người Việt.
Đậu phụ là nguồn cung cấp chất đạm cho bắp thịt cần cho những người làm việc nặng và đậu phụ rẻ hơn thịt.
Phép lạ Nhật Bản cũng là sự tính toán, tiết kiệm trong đời sống. Nhật tuy đất ít nhưng cũng có thể tự túc được gạo. Để phát huy năng suất của đất, người Nhật sử dụng nhiều phân bón hóa học. Vì thế giá thành của lúa làm ra cao. Chính phủ Nhật phải phụ cấp cho nông dân để nông dân có thể bán lúa trong nước với giá thấp hơn. Để đạt được mức cung cấp gạo tối đa cho một diện tích đất ít ỏi, người Nhật trồng loại lúa thượng hạng. Loại lúa này họ đem xuất cảng bán được với giá cao. Số tiền bán được họ mua gạo hạng thường về cho dân dùng như thế họ có được nhiều gạo hơn. Trong những năm từ đầu thiên niên kỷ 2000, chính phủ Nhật bỏ phụ cấp trồng lúa cho nông dân và bỏ chính sách phải tự túc được về gạo mà nhập cảng gạo cho dân trong nước dùng. Họ dùng đất để xây nhà máy, chế tạo hàng hóa đem bán thì được lợi gấp bội việc trồng lúa.
Phép lạ Nhật Bản cũng là sự tỉnh táo, sáng suốt nhìn vào tình thế. Người Nhật có thể rình giết lính Mỹ, quấy rối quân đội Mỹ mãi mãi để đuổi người Mỹ đang chiếm đóng nước Nhật. Nhưng làm thế thì Nhật sẽ trở thành kẻ thù của Mỹ và mất đi dịp học hỏi kỹ thuật của người Mỹ. Người Nhật hiểu họ thua Mỹ là vì kém về kỹ thuật trong nhiều mặt, kém về tiềm năng kinh tế. Vì thế họ đưa ra khẩu hiệu “đuổi kịp người Tây Phương, vượt qua người Tây Phương”. Họ đã từng canh tân nước Nhật vì thấy khoa học kỹ thuật và kinh tế là nền tảng của sức mạnh quốc gia. Họ tìm cách xây dựng nền tảng của sức mạnh quốc gia trong khi hoàn cảnh bại trận giới hạn họ trong một số mặt. Họ đã tự nhủ với nhau rằng “Nếu chúng ta không thể làm người thắng giỏi thì chúng ta sẽ làm người thua giỏi”. Người thua giỏi là người biết nuôi sức mình để chờ cơ hội thuận tiện mà đứng thẳng lên.
Nhật là thuộc địa kiểu mới của Mỹ?
Cho đến ngày nay cũng vẫn còn có người gọi các nước nằm trong vùng ảnh hưởng của các nước tư bản Tây phương là « thuộc địa kiểu mới » của các nước Tây phương.

Chữ thuộc địa kiểu mới phát sinh từ chỗ sau Thế Chiến Hai, các nước Tây Phương đã trả lại độc lập cho các nước thuộc địa nhưng vẫn giữ quan hệ về kinh tế, chính trị với các nước này. Các nước thuộc địa cũ tuy được độc lập nhưng vẫn còn nền kinh tế nông nghiệp, chưa công nghiệp hóa nên vẫn tiêu thụ sản phẩm công nghiệp của các nước Tây phương, các nước Tây Phương vẫn khai thác và mua nguyên liệu từ các nước thuộc địa cũ giống như thời các nước này còn là thuộc địa. Chẳng hạn, các nước cựu thuộc địa của Anh, sau khi được trả độc lập vẫn ở trong khối Common Wealth do Anh dẫn đầu và buôn bán, giao thiệp với Anh. Một số nước cựu thuộc địa của Pháp ở trong khối Liên Hiệp Pháp và tiếp tục buôn bán, giao thiệp với Pháp.
Trường hợp của Nhật xem ra không thể xếp chung vào với các nước cựu thuộc địa vì Nhật đã là một nước công nghiệp hóa chẳng khác gì các nước Tây phương từ trước Thế Chiến Hai. Sau Thế Chiến Hai, vì thua trận nên Nhật và Đức bị Mỹ khống chế không cho có quân đội lớn, nhưng về mặt kinh tế, Nhật là một nước công nghiệp hóa nên Nhật bán hàng cho các nước khác đồng thời mua nguyên liệu từ các nước khác giống y như các nước Tây Phương đã công nghiệp hóa chứ không phải là nước chỉ tiêu thụ sản phẩm công nghiệp của các nước Tây phương và cung cấp nguyên liệu cho các nước công nghiệp. Vì thế không thể gọi Nhật là thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Nhật bán hàng sang Mỹ nhiều hơn Mỹ bán sang Nhật. Công ty Toyota của Nhật đã soán ngôi công ty GM của Mỹ trong ngôi vị công ty bán xe hơi nhiều nhất thế giới thì đâu thể gọi Nhật là thuộc địa kiểu mới của Mỹ.
Qua đến thập niên 1980, một số nước Á Châu trước đây bị gọi là thuộc địa kiểu mới như Mã Lai, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Phillipines lại được xem là Con Rồng Của Á Châu khi có nền kinh tế phát triển nhanh. Trường hợp Đài Loan và Nam Hàn thì từ nước nông nghiệp sau Thế Chiến Hai ngày nay đã thành một nước công nghiệp sản xuất hàng bán đi khắp thế giới.
Dù gọi là thuộc địa kiểu mới hay là gì chăng nữa thì trong nền kinh tế tự do của thế giới, nước nào mà người dân hăng hái hoạt động, có chính sách phát triển khôn ngoan thì cũng vươn lên được.
Người Mỹ đã thay đổi nước Nhật ở chỗ giới hạn khuynh hướng gây chiến tranh, nhưng trong khung cảnh kinh tế tự do của thế giới, nước Nhật cũng vẫn vươn lên được bằng các sử dụng tốt nhất các điều kiện eo hẹp nhất định mà họ có.


Tác giả: Minh Đức 

Thứ Ba, 16 tháng 2, 2016

Vườn quốc gia Yosemite - Từ Cathy Paris

Với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp và những ngọn núi hùng vĩ, Vườn quốc gia Yosemite là điểm đến lý tưởng với những người yêu dã ngoại.

Đồi Lembert 
Nếu bạn chỉ còn 3 giờ để tham quan, đồi Lembert chính là nơi mà bạn nên đến. Bạn có thể đi dạo xung quanh thung lũng (khoảng 4,5 km) và thưởng thức khung cảnh thiên nhiên. Đồi Lembert cao 246,4 m là một ngọn đồi ấn tượng tại Yosemite. Nếu bạn leo được đến đỉnh của đồi Lembert, hãy tự hào rằng mình đã chinh phục được một ngọn núi thực sự.

Thảo nguyên Tuolumne 

Xuôi theo dòng sông Tuolumne, đồng cỏ này là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích cắm trại và đi bộ. Khung cảnh ở đây còn hoang sơ với những thảm cỏ bát ngát và nhiều loại cây phong phú. Bạn có thể ngắm nhìn nhiều loại cây với những cái tên rất lạ như cây cói túi Ross, cây thông Lodgepole những cây việt quất thân lùn.

Thác nước Bridalveil 

Thác nước cao 188,8 m này được đặt tên theo một thần thoại từ bộ lạc Ahwahneechee - bộ lạc châu Mỹ nguyên thủy. Họ tin rằng nếu hít hơi sương tỏa ra từ thác nước này, bạn sẽ nhanh chóng kiếm được ai đó để đi tới hôn nhân.

Núi Cathedral

Với lợi thế trải dọc cả vườn quốc gia Yomesite, dãy núi Cathedral trở thành một điểm nhất trong mắt khách du lịch. Nhà tự nhiên học John Muir ước tính dãy núi này cao hơn 3.325 m.

El Capitan

Những người yêu thích leo núi sẽ được thử thách khả năng của mình với ngọn núi dựng thẳng đứng El Capitan.Với chiều cao 914 m, El Capitan được đưa vào danh sách những ngọn núi khó khăn nhất để leo đến đỉnh, nếu không muốn nói là không thể.

Glacier Point

Một trong những điểm nhìn tốt nhất tại Yosemite chính là Glacier Point. Ở hướng nam tính từ thung lũng Yosemite. Điểm nhìn này cung cấp cho bạn cái nhìn toàn cảnh với độ cao 2.206 m. Từ đây bạn có thể nhìn tới nơi thấp hơn với những góc cảnh rất đẹp như Half Dome, thác Yosemite, thác Vernal và thác Nevada.

Đỉnh Half Dome

Tự nhiên đã khắc họa đỉnh đồi Half Dome với chất liệu bằng đá xanh. Ngọn núi này cao 1.449 m. Nếu bạn muốn chinh phục Half Dome hãy chắc chắn rằng bạn có đủ thể lực và kiên trì. Còn không bạn có thể lựa chọn một con đường đơn giản hơn: đi cáp treo.

Những cây cù tùng khổng lồ

Nếu bạn là người ưa khám phá sinh vật khổng lồ trên thế giới, những cây cù tùng khổng lồ ở đây sẽ thỏa mãn ước muốn đó của bạn. Trong rừng cây cù tùng này có khoảng 500 cây được gán biệt danh “gã khổng lồ “ về kích thước. Ở đây có những cây đã được 3.000 năm tuổi.

Thác Nevada 

Sau một hành trình đi bộ, điều gì làm bạn sảng khoái nhất? Dĩ nhiên là những hơi sương lạnh và tiếng nước từ thác Nevada sẽ thỏa mãn bạn. Để đến thác Nevada, bạn phải trải qua một cuộc hành trình đi bộ từ 2 đến 5 tiếng đồng hồ. Hành trình này bắt đầu từ hòn đảo nhỏ có tên là Happy và sau đó bạn sẽ được thưởng thức không khí mát lành của thác Nevada.

Thác nước Yosemite

Thác nước Yosemite là thác nước cao nhất vùng Bắc Mỹ và đứng thứ 6 trên thế giới về xếp hạng độ cao. Với chiều cao 741,744 m, nằm tại trung tâm dãy núi Sierra Nevada, thác Yosemite là một điểm đến thu hút khách du lịch. Cuối mùa xuân, khi tuyết tan, dòng nước trắng xóa ào ào đổ xuống chính là lúc vẻ đẹp của Thác Yosemite lên tới đỉnh điểm.

Tunnel View

Đi theo con đường 41, Tunnel View hiện lên với khung cảnh hùng vĩ. Từ đây bạn có thể chụp những tấm ảnh đẹp đến ngỡ ngàng với chùm địa điểm nổi tiếng của Yosemite: El Capitan, Half Dome và thác nước Bridalveil

Thung lũng Yosemite

Con sông Merced với dòng nước uốn lượn dài 22,4 km đã tạo nên một thung lũng Yosemite tuyệt vời. Thung lũng Yosemite dài 12,8 km và sâu khoảng 1 dặm đem lại cho khách du lịch tầm nhìn rộng. Đến Thung lũng này, bạn có thể lấp đầy bộ sưu tập ảnh của mình với nhiều góc hình khác nhau.

Hà My